Tạo cơ hội cho người dân nghèo tìm cách thoát nghèo

;
Thứ Sáu, 14/07/2006, 07:35 [GMT+7]

Nhận diện thực trạng

Báo cáo của Ban cán sự đảng UBND tỉnh tại hội nghị đã đánh giá khái quát những thành tựu rõ rệt của công cuộc xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc ít người. Đó là những

 Dệt thổ cẩm.
chuyển biến đáng kể trong đầu tư hạ tầng miền núi, tạo thêm cơ hội chuyển dịch cơ cấu kinh tế để nâng cao đời sống cho đồng bào. Nguồn lực đầu tư và các chính sách, cơ chế hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội (KT- XH) vùng dân tộc ít người đã và đang thực thi tác động vào sự thay đổi diện mạo miền núi (như chương trình 135, 134; định canh định cư; giao đất, giao rừng; phát triển trồng rừng và cây nguyên liệu; xây dựng đời sống văn hóa...). Song, một thực trạng đáng quan tâm nhất của miền núi, vùng đồng bào dân tộc ít người là tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao so với các vùng khác trong tỉnh. Số liệu điều tra năm 2005 cho thấy, số hộ đói nghèo ở Tây Giang chiếm 84,62 %; Nam Trà My 77,79%, Phước Sơn 59,74%; Bắc Trà My 56,31%; Đông Giang 52,77%; Nam Giang 52,63%; Hiệp Đức 42,41%; Tiên Phước 40,07%.

Nền sản xuất của miền núi nói chung còn yếu kém, chưa có sự bứt phá theo hướng kinh tế hàng hóa. Nguồn lực đầu tư và các cơ chế chính sách hỗ trợ cho đồng bào vùng dân tộc ít người không đồng bộ. Nhân lực và bộ máy điều hành thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH còn có những bất cập, hạn chế...

Giải pháp : không mới ở định hướng mà ở cách làm

Một số chỉ tiêu chủ yếu đến 2010 :
-  Đường ô tô đi đến xã thông suốt 2 mùa (hiện cần hoàn tất đường đến 14 xã vùng cao)
-  100% hộ có nước sinh hoạt; 90% hộ có điện sử dụng
-  100% xã có bác sĩ và có thiết chế thông tin liên lạc
-  100% thôn, bản có nhà sinh hoạt cộng đồng... 
Từ thực trạng nêu trên,  báo cáo chuyên đề của Ban cán sự đảng UBND tỉnh xác định một số giải pháp lớn trong 5 năm đến, như :  đầu tư mạnh vào hạ tầng miền núi, với hướng ưu tiên cho giao thông, điện, thông tin liên lạc, nước sinh hoạt, các thiết chế nghe nhìn, và các công trình phúc lợi khác. Trong tổ chức sản xuất, đẩy mạnh giao đất giao rừng cho cộng đồng làng, mở rộng vùng cây nguyên liệu, cây công nghiệp và cây đặc sản hàng hóa; đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm... Về văn hóa xã hội, tiếp tục đầu tư sâu hơn cho giáo dục, y tế; phát huy giá trị văn hóa tộc người, văn hóa làng bản; xây dựng các thiết chế văn hóa cơ sở...

Một giải pháp mới rất đáng chú ý là lập đề án hình thành và triển khai các “Tổ hỗ trợ nâng cao năng lực cộng đồng dân tộc ít người”. Những tổ này có nhiệm vụ tuyên truyền vận động để thay đổi tập quán sản xuất cũ, đưa những tiến bộ khoa học, kỹ thuật áp dụng trên từng hộ, đến thôn, nóc, ra cộng đồng lớn hơn; tác động vào cách thức tổ chức sản xuất của đồng bào, đồng thời khuyến khích các hoạt động bảo vệ rừng, biết cách làm giàu từ rừng... Giải pháp về sắp xếp lại dân cư miền núi cũng đã được đặt ra để đẩy mạnh định canh, định cư, phát triển các cụm công nghiệp, dịch vụ trên những địa bàn thuận lợi, phù hợp.

Các giải pháp đặt ra cơ bản không mới với các định hướng lâu nay về phát triển KT-XH miền núi. Có mới chăng là xếp những giải pháp đó vào một hệ thống và xác định một mục tiêu cơ bản là đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc ít người, để giai đoạn 2006-2010, phấn đấu hằng năm giảm nghèo từ 6 - 8 %. Ai sẽ thực hiện các giải pháp? Là cả hệ thống chính trị nhưng quan trọng nhất là từ phía người dân. Bằng những tác động của Nhà nước về cơ chế, chính sách, đào tạo nguồn nhân lực, và một hệ thống hạ tầng cơ sở, người dân sẽ có thêm cơ hội để tìm kiếm cách thoát nghèo, làm giàu. Bởi, nói như Bí thư Tỉnh ủy Vũ Ngọc Hoàng, người dân không tham gia thảo luận trong một hội nghị như thế này, nhưng họ chính là đối tượng chính của công cuộc thoát nghèo. Do đó, cần tư duy trên nền thực tiễn và những nhu cầu rất thực của người dân vùng cao, mọi sự áp đặt có tính lý thuyết đều không ổn.

 Ông Đinh Mươk, Trưởng ban dân tộc tỉnh: Nâng cao năng lực cán bộ cơ sở, giúp dân tự biết cách làm giàu
Cán bộ cơ sở cần chịu khó bám thôn, bám bản, bám làng. Đào tạo bài bản đội ngũ cán bộ người dân tộc  thiểu số làm công tác khuyến nông, khuyến lâm và khuyến công. Muốn truyền đạt cho dân hiểu, lực lượng này phải có vốn tri thức nhất định; hướng dẫn từng bước một, làm đi làm lại nhiều lần, cầm tay chỉ việc cho bà con quen dần với cách sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, để giúp đồng bào   biết cách vươn lên trong cuộc sống, cách tốt nhất là phải chống căn bệnh thụ động, trông chờ ỷ lại.
Ông Nguyễn Đình Hòa, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy : Giải ngay bài toán bất cập trong đội ngũ cán bộ miền núi
Bình quân mỗi năm có hàng trăm con em đồng bào tốt nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và cử tuyển ra trường,  song số được bố trí vào các cơ quan, công sở nhà nước chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nghịch lý là, cán bộ miền núi thiếu trầm trọng nhưng ít có nơi nào nhận con em đồng bào. Đó là chưa kể bất cập trong đào tạo, nhiều học sinh tốt nghiệp các ngành cơ khí, chế biến thủy  sản... chưa phù hợp với nhu cầu sử dụng cán bộ ở miền núi. Riêng về học sinh cử tuyển, có huyện một năm ra trường cùng lúc đến 25 em nhưng họa hoằn lắm mới sử dụng được vài em. Đội ngũ cán bộ miền núi không thiếu, có nơi cứ 5 người dân có 1 cán bộ. Tuy nhiên, chất lượng cán bộ cơ sở lại quá thấp, chưa thể làm cho miền núi vực dậy. Một trong những giải pháp nhằm giảm nghèo miền núi là tìm lời giải cho bài toán bất cập về đội ngũ cán bộ tại đây.
Ông  Bríu Liếc, Chủ tịch UBND huyện Tây Giang  : Tạo  cơ hội hình thành lực lượng công nhân lâm nghiệp
Hướng dẫn cho cộng đồng làng, nhóm hộ và hộ gia đình đẩy mạnh việc trồng rừng kinh tế. Xác định rừng là "cần câu cơm", lấy rừng nuôi rừng bằng cách không trồng và khai thác rừng bừa bãi, tự phát. Các doanh nghiệp, công ty giúp vốn, kỹ thuật trồng; có thể hưởng lợi theo thỏa thuận giữa các bên...
Ông Nguyễn Thành Vân, Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My : Cần thành lập tổ bảo quản các công trình hạ tầng nông thôn
Các chương trình, dự án Trung ương đầu tư cho miền núi là vô cùng lớn, song hiệu quả lại rất thấp do lâu nay không có kế hoạch quản lý, duy tu sau khi đầu tư. Hậu quả là nhiều công trình gây thất thoát, lãng phí. Về chăn nuôi, miền núi cần xây dựng các mô hình ương cá giống tại chỗ, hạn chế  mức độ thiệt hại khi đem cá giống từ đồng bằng lên. Phải xây chuồng trại thoáng mát, hợp vệ sinh, tránh lối chăn thả gia súc rông (số trâu bò chết vì rét ở các huyện miền núi năm vừa qua là một ví dụ). Xác định được lợi thế sản xuất của từng vùng, phát huy trồng các cây dược liệu. Định hướng tư vấn sản xuất, thường xuyên cho đồng bào, giúp họ có thể tạo ra các loại hàng hóa rau quả phục vụ tại chỗ.
Ông Dương Đức Quý, Phó ban Văn hóa - xã hội, HĐND tỉnh : Cần chú trọng quy hoạch sắp xếp lại dân cư
Miền núi muốn giảm nghèo cần phải quy hoạch sắp xếp lại dân cư một cách khoa học, làm tốt công tác định canh định cư. Bởi, lịch sử cho thấy, nhiều nóc, bản làng của đồng bào nằm tận ở chốn thâm sơn cùng cốc, không có những điều kiện sản xuất tối thiểu. Nếu không di dời họ, chắc chắn sẽ triền miên đeo gông sự nghèo đói. Đầu tư, mở rộng giao thông nông thôn sẽ là con đường huyết mạch giúp bà con có điều kiện tiếp xúc với cung cách làm ăn mới. Đồng thời, dựa vào lớp trẻ để thay đổi tập tục sản xuất. Các trường THCS miền núi ngoài đào tạo kiến thức phổ thông còn phải hướng đến trang bị cho học sinh những hiểu biết về sản xuất nông- lâm, có thể giúp bà con nắm được kỹ thuật gieo trồng.

Hữu Đổng - Hữu Phúc

.
.
.
.
.