Quản lý lao động người nước ngoài: Vẫn còn lỗ hổng

;
Thứ Năm, 22/03/2018, 14:28 [GMT+7]

Bộ LĐ-TB&XH vừa đưa ra dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động (LĐ), bảo hiểm xã hội, đưa người LĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng làm việc tại Việt Nam, nhằm siết chặt tình trạng này. Tại Quảng Nam, việc kiểm soát LĐ người nước ngoài thực tế còn nhiều trở ngại vì những lỗ hổng.

Tăng cường kiểm tra để quản lý lao động nước ngoài làm việc ở các doanh nghiệp trong tỉnh. Ảnh: D.L
Tăng cường kiểm tra để quản lý lao động nước ngoài làm việc ở các doanh nghiệp trong tỉnh. Ảnh: D.L

Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh sôi động hơn, số lượng LĐ là người nước ngoài vào làm việc ngày càng đông. Tính đến cuối năm 2017, số LĐ nước ngoài đang làm việc trên địa bàn tỉnh là 952 người ở 180 doanh nghiệp, trong đó có cả LĐ được cấp phép và không thuộc diện cấp phép. Sở LĐ-TB&XH, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh, Ban quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai đã cấp mới và cấp lại giấy phép LĐ cho 470 LĐ nước ngoài, xác nhận có 54 LĐ nước ngoài không thuộc diện cấp phép, đồng thời thu hồi 6 giấy phép LĐ hết hạn được cấp năm 2017 do chấm dứt hợp đồng LĐ. Thông tin mới nhất từ Sở LĐ-TB&XH, tình hình sử dụng LĐ nước ngoài ở dự án Vinpearl Nam Hội An và sẽ tiến hành kiểm tra thực tế. Từ khi khởi động dự án đến nay, doanh nghiệp này chưa có báo cáo đến Sở LĐ-TB&XH về tình hình sử dụng LĐ người nước ngoài, nhưng theo tin báo đang có đến 137 LĐ nước ngoài đang làm việc ở đây.

Theo ông Lê Huy Tứ - Trưởng phòng Lao động - việc làm (Sở LĐ-TB&XH), thực tế có tình trạng LĐ nước ngoài làm việc chui ở Việt Nam, do doanh nghiệp lợi dụng “lỗ hổng” trong quy định của pháp luật. Ông Tứ phân tích: “Theo quy định, LĐ nước ngoài làm việc dưới 3 tháng không thuộc diện cấp giấy phép LĐ. Các doanh nghiệp và cả người LĐ nước ngoài đã lợi dụng con đường đi du lịch, rồi vào làm việc cho các doanh nghiệp, trung tâm... mà không báo cáo tình hình với cơ quan quản lý nhà nước”. Ông Tứ phân tích thêm có những quy định khác của pháp luật và thực tế diễn ra cũng khiến cho việc quản lý LĐ người nước ngoài gặp khó. Chẳng hạn như quy định người LĐ nước ngoài phải được cấp phép trước khi vào Việt Nam làm việc, nhưng tất cả đều vào làm việc rồi mới xin giấy phép. Có những trường hợp khó phân định đâu là chuyên gia hay lao động kỹ thuật để cấp phép, như ca sĩ, nghệ nhân người nước ngoài vào Việt Nam làm việc tại các khách sạn, nhà hàng, quán bar phục vụ du khách, nghĩa là họ đang LĐ tại Việt Nam vì có nhận tiền công.

Thế nhưng cơ quan quản lý nhà nước không thể xác định được họ là LĐ thuộc diện gì. Và thêm một quy định nữa là người nước ngoài góp vốn vào trong công ty thì không thuộc diện cấp phép, nhưng lại không quy định mức góp vốn tối thiểu là bao nhiêu. Thế nên có những hồ sơ gửi đến Sở LĐ-TB&XH thẩm định, có người chỉ góp một số tiền rất nhỏ như 1.000 hay 1.500USD, tương đương với một tháng lương của LĐ kỹ thuật nước ngoài, nhưng cũng là LĐ nước ngoài thuộc diện không cấp phép. Quy định này khiến cho chủ sử dụng LĐ có thể lợi dụng để không phải đi xin giấy phép cho LĐ nước ngoài. Để tăng cường quản lý LĐ là người nước ngoài, Sở LĐ-TB&XH đã phối hợp với Công an tỉnh đi kiểm tra thường xuyên các đơn vị sử dụng LĐ có yếu tố nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Qua đó, sở kết hợp tuyên truyền, hướng dẫn chủ sử dụng LĐ phải báo cáo, xin cấp phép cho LĐ nước ngoài để không vi phạm những quy định của pháp luật và bị xử phạt.

LÊ DIỄM

.
.
.
.
.