Hy vọng cho bệnh nhân tụy, mật

Phương Giang |

Phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) và siêu âm nội soi (EUS) nếu được kết hợp đúng cách sẽ mang lại nhiều tiến triển tốt cho những bệnh nhân phải phẫu thuật vì các bệnh liên quan đến tụy, mật.

Phương pháp mới

Hội thảo “Một số tiến bộ trong nội soi tiêu hóa 2012” do Chi hội Nội soi tiêu hóa miền Trung phối hợp với Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam tổ chức đã đề cập cụ thể phương pháp ERCP và EUS trong điều trị các bệnh liên quan đến tụy, mật. Phương pháp EUS ra đời được đánh giá hiệu quả trong tiên lượng ung thư tụy cũng như nhiều bệnh khác như viêm tụy mạn, nang giả tụy…

 Một ca nội soi mật tụy ngược dòng lấy sỏi ống mật chủ tại Bệnh viện 103. (Ảnh minh họa, nguồn: internet)
Một ca nội soi mật tụy ngược dòng lấy sỏi ống mật chủ tại Bệnh viện 103. (Ảnh minh họa, nguồn: internet)

Phương pháp này đã được nhiều bác sĩ đầu ngành về phẫu thuật hệ tiêu hóa trong nước và quốc tế tham luận về hiệu quả của nó. Trong đó, bài thuyết trình về “Cập nhật siêu âm nội soi trong chẩn đoán và can thiệp” do GS. Lawrence Ho Khek-Yu (Bệnh viện Đại học Quốc gia Singapore) trình bày có nhiều thông tin bổ ích cho các bác sĩ đang hoạt động trong ngành nội soi tiêu hóa. Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam cũng đã thảo luận vấn đề này như một phương pháp mới để ứng dụng trong điều trị khám chữa bệnh cho bệnh nhân.

PGS-TS. Vũ Quang Khiên, Phó Chủ tịch Liên chi hội Nội soi tiêu hóa Việt Nam cho rằng, nội soi siêu âm là một vấn đề mới đối với nhiều y bác sĩ trong nước. Theo đó, có nhiều tình huống trong thực tế rất khó để phân biệt. Có hai tình huống, một là bệnh nhân thực sự mắc chứng nang giả tụy nhưng một số bệnh nhân khác không có biểu hiện gì trong lâm sàng nhưng lại có các nang ung thư. Vậy trường hợp này phân biệt thế nào và điều trị ra sao? Theo GS. Lawrence Ho Khek-Yu, u dạng nang là nguyên nhân ban đầu gây ra bệnh viêm tụy cấp. Nên siêu âm nội soi rất quan trọng bởi bác sĩ có thể có những hình ảnh để giúp phân biệt, nếu là nang giả tụy thường sẽ thấy dịch đồng nhất. GS. Lawrence Ho Khek-Yu cho biết: “Trong khi đó, u dạng nang sẽ thấy các nốt u sưng nhô ra, thành nang dày hơn. Trường hợp này cần làm xét nghiệm chọc dịch và các xét nghiệm liên quan. Không nên chờ đợi lâu mà cần tiến hành sớm hơn”.

Các hình ảnh về siêu âm nội soi  - EUS. Ảnh: P.G
Các hình ảnh về siêu âm nội soi - EUS. Ảnh: P.G

Niềm hy vọng cho bệnh nhân

Sau khi cung cấp nhiều thông tin về “Chiến lược xử lý sỏi mật hiện nay trên thế giới”, GS. Trịnh Đình Hỷ, một chuyên gia nổi tiếng về nội soi tiêu hóa tại Pháp lưu ý, cần phân biệt giữa nang giả tụy và u tụy. EUS gần với chẩn đoán hình ảnh hơn nên đối với giải phẫu liên quan đến mật, trong vòng 48 giờ nếu trường hợp bệnh nhân nặng hơn ban đầu nên can thiệp ERCP để cắt cơ vòng lấy sỏi. Mục đích là lấy sỏi dù tụy có bị tổn thương. “Cần thiết phải tránh nhầm lẫn nang giả tụy và u tụy để có phương pháp tiếp cận tốt nhất” - ông Hỷ nói. Là người có nhiều kinh nghiệm trong các ca mổ tụy, GS-TS. Lê Quang Nghĩa, Chủ tịch Hội Phẫu thuật tiêu hóa TP. Hồ Chí Minh cho biết: “Trong nhiều ca mổ nang tụy, tôi rất đắn đo. Nhưng nhờ những tiến bộ trong siêu âm nội soi, tôi từng mổ nhiều ca nang tụy và  bệnh nhân tiến triển rất tốt”.

Theo GS. Lawrence Ho Khek-Yu, siêu âm nội soi là phương tiện thiết yếu trong xử lý các bệnh lý đường mật, tụy. Độ nhạy và độ đặc hiệu của các phương pháp CT, MRI, ERCP trong việc chẩn đoán hình ảnh viêm tụy mạn ở giai đoạn sớm là rất thấp. Trong khi đó, đối với bệnh nang giả tụy, việc dẫn lưu nang giả tụy dưới hướng dẫn của EUS mang nhiều lợi điểm như: không bị hạn chế bởi dấu căng phồng của tụy; đánh giá chính xác độ dày của phần tổ chức can thiệp nên giảm thủng tụy; có thể phân biệt được nang giả tụy và u dạng nang; xác định chắc chắn những gì có thể dẫn lưu được.

“Khi có EUS, nên xem đây là điều trị đầu tay dẫn lưu nang giả tụy với tỷ lệ thành công cao” - GS. Lawrence Ho Khek-Yu nói. Ngoài ra, trong xử lý u tụy, EUS giúp tránh các phẫu thuật không cần thiết, xác định đúng giai đoạn, lấy mẫu mô. Điều trị giảm đau thuận lợi hơn dưới sự hướng dẫn của EUS để phân tích đám rối dương và hướng dẫn lưu mật.

Với nhiều kinh nghiệm trong phương pháp EUS, GS. Lawrence Ho Khek-Yu cho rằng, trong xử lý các bệnh lý về đường mật, EUS chẩn đoán sỏi và lấy sỏi đường mật rất chính xác nên tránh được các biến chứng của ERCP trong chẩn đoán. EUS là phương thức chẩn đoán giúp cho các bác sĩ nội soi có thể đánh giá được các lớp trong thành ống tiêu hóa, góp phần cải thiện khả năng mô tả bản chất khối u và phân biệt các tổn thương lành tính hay ác tính. Cho nên, EUS là phương pháp chẩn đoán hiệu quả ung thư tụy, đặc biệt trong trường hợp ung thư tụy có khối u rất nhỏ. “Phương pháp EUS và ERCP là hai phương pháp song song và hỗ trợ nhau rất tốt” - ông Lawrence Ho Khek-Yu nhấn mạnh. Trong khi đó, GS-TS. Lê Quang Nghĩa, Chủ tịch Hội Phẫu thuật tiêu hóa TP. Hồ Chí Minh nhận định: “EUS là phương pháp thiên về chẩn đoán hình ảnh, còn ERCP là phương pháp can thiệp, thiên về giải phẫu. Nếu hai phương pháp này được kết hợp trong điều trị các bệnh liên quan đến tụy, mật sẽ cho tỷ lệ thành công cao khi phải phẫu thuật”.

Phương Giang