Chuyện xưa vè tuyển cử

ĐÔNG KHÔI |

Ngay sau thành lập nước (2.9.1945), ngày 8.9.1945 Chính phủ lâm thời công bố Sắc lệnh Tổng tuyển cử bầu Quốc hội vào đầu năm 1946.

Tại Quảng Nam, để tuyên truyền, vận động bầu cử, các cuộc mít tinh, hội họp, thảo luận, trao đổi... được tổ chức liên tục bằng nhiều hình thức sáng tạo và sinh động. Đặc biệt, Tỉnh ủy chủ trương cho sáng tác nhiều bài thơ, hò vè, câu đối… để động viên cử tri đi bầu cử và cần bầu những người nào, đại diện cho quyền lợi của dân. Đây là hình thức vận động sáng tạo, độc đáo, bởi những câu thơ, bài vè dễ nhớ, dễ thuộc. Vì vậy, từ cụ già đến trẻ em thiếu nhi đất Quảng đều thuộc lòng những bài vè này.

Ở vùng Duy Xuyên, Điện Bàn lưu truyền bài vè như sau: “Tổng tuyển cử đã tới rồi/ Vì quyền, vì lợi mấy lời xin ghi:/ Trung Bộ có anh Trần Đình Tri/ Anh Lê Văn Hiến vậy thì đồng song/ Phan Bôi một dạ một lòng/ Anh Huỳnh Ngọc Huệ cũng dòng đấu tranh/ Cứu tế có chị Phan Thanh/ Anh Nguyễn Thế Kỷ cùng anh Phạm Bằng/ Trần Tống tuổi trẻ sức hăng/ Phan Thao, Võ Sạ từng quen ta nhiều/ Quế Sơn đồng chí Phan Diêu/ Cùng Nguyễn Xuân Nhĩ đủ điều kinh luân/ Trần Viện gian khổ đã từng/ Anh Lâm Quang Thự lẫy lừng tiếng tăm”.

Cuối bài vè là những lời nhắn nhủ, nêu rõ trách nhiệm của cử tri nên thận trọng khi bỏ lá phiếu của mình: “Đồng bào thận trọng lá thăm/ Nhớ người định rõ những ai đáng bầu/ Để giành quyền lợi tối cao/ Mới yên số phận đồng bào Việt Nam”.

Vùng Quế Sơn thì lưu truyền bài vè: “Lẳng lặng mà nghe/ Cái vè bầu cử/ Ông Tri, ông Thự/ Ông Hiến, bà Thanh/ Cùng với các anh/ Huệ, Bôi, Sạ, Nhĩ/ Tống, Bằng, Thao, Kỷ/ Với lại Viện, Diêu/ Người khác cũng nhiều/ Đầu đơn ứng cử/ Đồng bào xét thử/ Ai đáng ai không/ Trên là các ông/ Nhiều năm tranh đấu…”.

Ở huyện Hòa Vang còn có bài: “Đồng bào ! Đồng bào!/ Tổng Tuyển cử đã đến ngày/ Quốc dân Đại hội ai thay đồng bào/ Trần Tống, Lê Hiến, Phan Thao/ Phan Bôi, Võ Sạ ta vào ký đi/ Lâm Quang Thự, Huỳnh Huệ, Trần Tri/ Phan Diêu, Trần Viện nên ghi cho rành/ Nguyễn Thế Kỷ, Bà Phan Thanh/ Phạm Bằng, Nguyễn Xuân Nhĩ ký nhanh cho rồi”.

Ngoài ra để giúp nhân dân dễ nhớ, một số nơi còn sáng tạo bằng cách ghép tên của 14 ứng cử viên trong hai vế của một câu đối: “Hiến - Bôi - Tống - Nhĩ - Tri - Thanh - Viện/ Thự - Huệ - Diêu - Thao - Kỷ - Sạ - Bằng”.

Lúc bấy giờ cán bộ tuyên truyền từ tỉnh đến cơ sở còn vận động bầu cử ở các địa phương bằng cách kể lại hình ảnh tiêu biểu, những mẩu chuyện cụ thể, hấp dẫn về các ứng cử viên do Mặt trận Việt Minh tỉnh giới thiệu…

Nhờ công tác tuyên truyền sâu rộng và kịp thời nên ngày 6.1.1946, hầu hết cử tri trong tỉnh tham gia bầu Quốc hội. Cũng như nhân dân cả nước, đây là lần đầu tiên, nhân dân Quảng Nam được sử dụng quyền dân chủ, hăng hái đi bỏ phiếu. Kết quả, cả 14 ứng cử viên tỉnh Quảng Nam do Mặt trận Việt Minh tỉnh giới thiệu đều trúng cử đại biểu Quốc hội với số phiếu khá cao. Ở Đà Nẵng đồng chí Lê Dung, ứng cử viên do Mặt trận Việt Minh thành phố giới thiệu cũng trúng cử với số phiếu khá cao.

Ngày 2.3.1946, Quốc hội khóa I họp kỳ thứ nhất tại thủ đô Hà Nội. Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam đề nghị và được Quốc hội phê chuẩn bổ sung ông Đinh Tựu, dân tộc Co ở châu Trà My (nay thuộc huyện Bắc Trà My) làm đại biểu Quốc hội thứ 15 của Quảng Nam.

Những đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của Quảng Nam đã không phụ lòng tin cậy của nhân dân. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhiều người đã tham gia gánh vác trọng trách trong bộ máy Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như: Lê Văn Hiến - Bộ trưởng đầu tiên của Bộ LĐ-TB&XH và sau đó làm Bộ trưởng Bộ Tài chính; Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) - Thứ trưởng Bộ Nội vụ; Trần Tống - Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đại học và Trung học chuyên nghiệp; Huỳnh Ngọc Huệ - Tổng Thư ký Liên đoàn Lao động Việt Nam; Lê Thị Xuyến - Hội trưởng đầu tiên của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam…

Đã 75 năm trôi qua, các vị đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của Quảng Nam không còn nữa, nhưng hình ảnh, ký ức ngày Tổng tuyển cử đầu tiên trên đất Quảng, cũng như hình ảnh, sự tận tâm, tận tụy phụng sự nhân dân, phụng sự cách mạng của họ vẫn được các thế hệ nối tiếp kể lại với niềm tin, sự tự hào về truyền thống cách mạng vẻ vang của quê hương xứ Quảng.