"Sử nhà" xứ Quảng

TRẦN ĐÌNH HẰNG |

(VHQN) - “Nước có quốc sử, nhà có gia phả...” thường được nhấn mạnh trong Lời tựa của nhiều gia phả xứ Quảng, rất ý nghĩa trong bối cảnh tân dân, từ quá trình mở cõi của dân tộc...

Gia phả tộc họ là di sản của làng. Ảnh minh họa Ảnh: HỮU KHIÊM
Gia phả tộc họ là di sản của làng. Ảnh minh họa Ảnh: HỮU KHIÊM

Tăng thêm sức sống trên quê hương mới, gia phả chính là “sử nhà”, nhấn mạnh yếu tố cội nguồn cố hương đất Bắc, nhờ đó con cháu có thể hồi hương tìm về tổ tông, lấy sử nhà để bổ sung nhiều chi tiết cho chính sử.

Di sản của làng

Di sản Hán Nôm thôn An Lâm (Đông An, Duy Xuyên) từ năm 1857 đã nhấn mạnh công lao khai lập làng xã, “từ miền Bắc, Tổ bắt đầu lập ấp quy dân… mấy bận hưng suy, tên bạ vẫn bền theo… trăm đời cũng không rời tổ tiên”.

Lệ làng quy định, ai không theo phong tục, bỏ bê nguồn gốc, có thể bị đuổi, không được dự việc làng để răn đe, bồi bổ đạo lý “người sinh có tổ phải luôn ghi lòng”. Làng vinh danh các vị thủy tổ họ Trương, rồi họ Nguyễn, họ Đoàn, họ Trần, họ Lê, họ Hồ.

Gia phả làm nên truyền thống hiếu nghĩa đặc biệt với phương châm: “Không có người đi trước gian nan mở lối, làm sao lớp người sau có được bạ tịch đất đai. Không có người sau giỏi giang tiếp nối, làm sao công lao khai sáng của người trước được rạng rỡ”.

Làng định lệ chi tiết việc kỵ chạp, buộc khai tên tuổi tổ phụ từ 5 đời để làm hương phả, “để không những công đức tiền nhân không mất đi mà đóng góp của hậu nhân vẫn được tiếp nối”.

Bản gia phả Lê tộc trường biên (1775 - thôn Giảng Hòa, Phú Mỹ, Thăng Hoa) có nhiều thông tin quý giá giúp tìm hiểu lịch sử văn hóa Quảng Nam, từ ngài Thủy tổ Lê Văn Trạch ở huyện Nghi Xuân (nay thuộc Hà Tĩnh), có người con trai theo quan Tham tụng đến Hoa châu để khai phá, lập nên thôn Giảng Hòa thời Vĩnh Trị.

Ngài để con trưởng Lê Văn Thái ở lại trồng trọt, dắt con trai nhỏ là Văn Huyền vượt sông, đi về phía tây đến huyện Duy Xuyên, kết bạn cùng tiên tổ các họ Uông, Hồ, Nguyễn, Phan khai phá rừng rậm thành ruộng đồng, lập nên xã Trung Lộc.

“Đến nay, cháu con đông đúc, nếu không tu lập phó ý, biên chép đầy đủ để biết trước biết sau, rõ ràng thế thứ sự tích, ắt hẳn không khỏi mơ hồ, cho nên mới kính cẩn lập ra đây”, kèm theo đó là bảng kê truyền thế của gia tộc qua nhiều đời.

Văn bản thời Thái Đức (1785) cho biết, ông nội bác của ông Văn Luân từng khai thác và để lại 2 mẫu 7 sào đất trồng dâu. Thời Minh Mệnh, xã trưởng Lê Văn Học từng lập văn bản cho ngài họ Hoàng làm Hậu hiền.

Họ Lê, họ Hoàng công lao nổi bật nên từ năm 1829, làng đã có Giấy lập Hậu hiền, nhấn mạnh: “Ăn quả phải nhớ ơn khó nhọc của người trồng cây; Uống nước chớ nên quên công sức người đào giếng” nên “nghĩ đến ngày trước”, các ngài họ Hoàng “sau cơn binh hỏa, lập lại thôn bạ, xây dựng miếu thờ, trưng được 12 mẫu đất trồng dâu làm của công cho thôn ta.

Khiến cho thôn ta gốc rễ vững bền, cây cành tươi tốt. Không thể nào quên được công đức ấy nên lập làm Hậu hiền, thờ vào miếu vũ. Phàm có các việc cầu an lễ lệ, chép tên vào văn tế để nêu cao công đức tiền nhân, để đời sau theo đó mà làm”.

Di sản của tộc họ

Gia phả còn đặc biệt quan trọng để nhấn mạnh hành trạng các nhân vật lịch sử, như trường hợp Tiến sĩ Phạm Tuấn (Xuân Đài, Phú Khương Thượng), nổi bật truyền thống hiếu học, khoa bảng.

Thân sinh của ông là Hiển khảo khai khoa tú tài - Phạm Bá Phủ, húy Văn Vận, tự Đại Hanh (phái nhì, đời 11, Đinh Hợi (1827) - Ất Hợi (1875)), đỗ tú tài ân khoa Mậu Thân (1848), là người học hành thuần chính.

Ông bị bệnh mất, mộ tại xứ Nguyệt Đài Hạ. Bà người họ Trần Thị, húy Hiểu, hiệu Minh Cơ. Ông bà sinh hạ 6 trai và 3 gái, người con trai thứ ba là Phạm Văn Luân (Văn Thành, sau cải Trọng Tuấn, sinh năm Nhâm Tý - 1852).

Cử nhân - Tiến sĩ lưỡng khai khoa Phạm Trọng Phủ, húy Tuấn, tự Hỷ Thần (đời thứ 12), đỗ tú tài năm Mậu Dần (1878), cử nhân năm Kỷ Mão (1879) và năm sau về tỉnh kiến nghiệp, đạt hạng ưu ba khóa liền, được ban thưởng hậu.

Đầu năm 1884, được phong làm Thủ Tá việc ở phủ Điện Bàn nhưng sau vì sơ sẩy bị giáng hai cấp, rồi được bổ Hàn Lâm viện Cung phụng, theo tỉnh đường sai phái. Kỳ thi Hội năm Kỷ Sửu (1889), ông đỗ có phân số (thiếu mấy phân), được bổ Huấn đạo huyện Quế Sơn.

Năm 1890, bổ nhiệm Tri huyện quyền nhiếp huyện Hà Đông, rồi thăng chức Huấn đạo. Đầu năm 1891, vâng lệnh sung Sơ khảo kỳ thi hương Bình Định. Năm 1892, chuẩn làm Giáo thọ.

Năm 1893, triều đình cử làm Phúc khảo trường Bình Định. Khoa thi hội Mậu Tuất (1898), ông trúng cách, thi điện, đệ tam danh, được ban Sắc tứ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, đệ ngũ danh (45 tuổi), chuẩn bổ làm Tu soạn, vào Quốc học học tiếng Pháp.

Năm 1898, đổi làm Thừa biện bộ Lễ, thăng chức Thừa chỉ. Năm 1901, thăng Thị giảng Học sĩ. Năm 1902, Tổng đốc Nam Ngãi - Tôn Thất tiến cử, được bổ nhiệm Án sát.

Năm 1908, bổ Đốc học Hà Tĩnh và về sau, nhờ thành tựu giáo dục, được ban hàm Quang lộc Thiếu khanh; năm 1913, xin cáo lão, được cho hưu trí, thăng Hồng lô Tự khanh (tài liệu VICAS Huế).

Trọng trách của thế hệ sau

Di sản Hán Nôm có thể giúp tìm về cội nguồn gia tộc thời mở cõi từ miền Bắc vào Nam. Từ đó, càng thêm cơ sở tái hiện quá trình tụ cư, truy nguyên chi phái gia tộc các miền quê xứ Quảng.

Gia phả là cuốn “sử nhà”, tạo giềng mối huyết mạch cho hậu thế, trở thành trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng gắn kết tình gia tộc. Ghi chép, phụng tu và bảo quản gia phả là trọng trách, với lòng vị tha, hiếu đễ, là người thực sự cẩn trọng, có uy tín để tạo phước đức cho con cháu.

Phương thức “tằm ăn dâu” từ nền tảng văn hóa gia tộc trong lịch sử đã kiến tạo Tổ quốc thì nay, truyền thống gia tộc càng khuyến khích con cháu xiển dương đạo lý cội nguồn, thắt chặt tình huyết thống gắn liền đời sống lễ nghi giỗ chạp, trùng tu tôn tạo nhà thờ, phụng dưỡng tổ tiên và nuôi dạy con cháu trưởng thành, nhất là với lớp trẻ.

Tính thiêng của đời sống nghi lễ càng giúp con cháu định hình lòng tự hào về truyền thống dòng họ, niềm tin thiêng liêng gắn kết tình thân tộc, với nhiều lệ định ứng xử nhân văn, truyền thống.

Ghi chép, phụng tu gia phả thành nét văn hóa độc đáo, thiêng liêng để luôn nhắc nhở con cháu về cội nguồn gia tộc, quá trình di cư của tổ tiên, vượt qua bao gian nan bởi thiên tai, địch họa... để “tân lập”. Đó là cơ sở để hiện nay, nhiều gia tộc hành hương tìm về cội nguồn miền ngoài, phổ biến từ Thanh - Nghệ.

TAGS