Tết ở Đàng Trong qua tư liệu

NGUYỄN VĂN THỊNH |

Tết Nguyên đán là lễ lớn nhất trong năm, một trong những phong tục của người Việt từ xưa đến nay. Ở Đàng Trong, từ thời kỳ chúa Nguyễn đến nhà Nguyễn, lễ tết luôn được triều đình và nhân dân quan tâm, hưởng ứng.

Cây nêu Trường Nguyễn Trãi.Ảnh: N.V.T
Cây nêu Trường Nguyễn Trãi.Ảnh: N.V.T

Các bộ sử liệu cùng với những ghi chép, du ký của các thương nhân, nhà truyền giáo cho biết một số thông tin về các nghi lễ, tập tục tết xưa của người Việt ở Đàng Trong.

1. “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” (tục biên) soạn vào thời vua Thành Thái có ghi chép về các lễ tiết trong Tết Nguyên đán. Về lễ dựng nêu, sách viết: “Năm Tự Đức thứ 29 (1876), bản tấu gửi lên: giờ Thân ngày 30 tháng này dựng nêu, mùng 7 giờ Thìn hạ nêu.

Ngày này vâng theo sắc: Cứ theo lời tâu của Khâm Thiên Giám ngày mai giờ Thân thì lên nêu. Việc này là việc thông thường hà tất phải chọn giờ. Từ nay về sau, dựng và hạ nêu quy định chuẩn cho lấy giờ Thìn thực hiện, mãi mãi lấy giờ đó làm lệ”.

Về lễ nghênh xuân, lễ tiến xuân ở cung đình và trong nhân dân, sách chép rằng: “Năm Thành Thái thứ nhất (1889), tâu được chuẩn: Lễ nghênh xuân và lễ tiến xuân, gặp khi nước có quốc tang xin tuân theo lệ năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) và Kiến Phúc thứ nhất (1884) mà thực hiện… vẫn giao ty hữu trách lập đàn ở ngoài quốc đông giao (ngoài thành phía đông - NV).

Đến ngày lễ, viên Kinh doãn mặc lễ phục làm lễ nghênh xuân, lễ xong Bộ Lễ cùng Kinh doãn, Khâm Thiên Giám kính rước 2 án đặt mang thần thổ ngưu đến kính dâng ở Duyệt Thị Đường và cung Gia Thọ. Việc dâng ở cung Trường Ninh, kính tuân chuẩn mà đình chỉ. Còn ở các địa phương khăn áo thường phục làm lễ nghênh xuân”.

Đối với lễ cày tịch điền: “Năm Tự Đức thứ bảy (1854) tâu xin chuẩn: Kính chiếu theo thời Minh Mạng, Thiệu Trị, lễ cày ruộng tịch điền có khi sai mệnh quan (Kinh doãn) đi cày thay một phen hay không. Trước đó sửa sang các thửa ruộng để tránh chi phí về nhân công vật liệu.

Năm Kiến Phúc thứ nhất (1884) tâu được chuẩn: Kính chiếu theo các năm Tự Đức thứ nhất (1848), thứ hai (1849), lễ tịch điền ở Kinh sai phái quan Kinh doãn thực hiện…

Còn như ở các địa phương thì tuân theo lệ hằng năm mà thi hành”. Trong đó, tịch điền tại trực tỉnh: “Quảng Nam: 3 mẫu 3 sào tịch điền. Năm Tự Đức thứ 27 (1874), thu hoạch được 25 hộc nếp, kính chi 29 hộc. Năm thứ 28 (1875), thu hoạch 25 hộc nếp, kính chi 27 hộc”.

2. Sử gia Trịnh Hoài Đức trong “Gia Định thành thông chí” biên soạn dưới thời vua Gia Long, xuất bản năm Minh Mạng thứ nhất (1820) ghi chép phong tục tập quán, lễ tết và tục dựng nêu như sau: “Ngày trừ tịch, mọi nhà đều trồng nêu tre ở trước cửa lớn, trên buộc cái sọt bằng tre, trong để trầu cau và vôi, bên cạnh treo giấy vàng bạc, gọi là trồng nêu… Ngày mùng 7 hạ xuống, gọi là hạ nêu. Phàm công nợ vay mượn còn thiếu lại, nội trong ngày tết không được đòi hỏi, phải đợi ngày hạ nêu rồi mới được đòi hỏi”.

“Tục cứ đến cuối năm may áo mới, đẹp, quét rửa sạch trong nhà ngoài sân, dán câu đối, bày bàn ghế, sửa soạn chỗ thờ cúng tổ tiên, có thứ gì bày ra hết để khoe với nhau; răn bảo con em, phàm việc gì phải cẩn thận, để bói xem điềm triệu trong một năm.

Mùng một tết, đầu giờ Dần, dậy đốt đèn hương, dâng nước chè nóng, lễ bái tổ tiên, rồi đến mừng tuổi người tôn trưởng, chúc cho sang năm mới giàu và sống lâu, làm cỗ bàn đặt cúng tiên tổ, mỗi ngày sáng chiều hai buổi, như để phụng cúng người còn sống. Phàm những thứ quả, mứt, bánh, hết thảy các món ăn dàn bày rất nhiều, đến ngày 13 thì tống thần, gọi là đệ tiễn…”.

3. “Đại Nam thực lục” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn từ năm Minh Mạng thứ hai (1821), hoàn thành vào năm Duy Tân thứ ba (1909) chép về việc định lại ngày tế Hợp hưởng có dụ rằng: “Hằng năm, tháng Chạp làm lễ “tuế trừ” (tháng đủ, vào ngày 30, tháng thiếu vào ngày 29)…

Đến ngày làm lễ, trống canh năm, sau khi bắn súng, hữu ty bày đặt cỗ bàn, vàng bạc, hương đèn, các hạng lễ phẩm ở các miếu đều đủ cả, biền binh thì bày hàng lỗ bộ, nghi trượng, nhã nhạc ở hai bên tả hữu trước sân miếu, hoàng tử, hoàng thân đều mặc áo thêu con mãng xà, chia đến các miếu đứng chờ làm lễ “tuế trừ” (tuế một tuần rượu, không có văn khấn); lễ xong, hữu ty chiếu lệ, dựng nêu…”.

Jean Koffler (1711 - 1780) là tu sĩ người Tiệp Khắc sống ở Huế vài năm dưới triều Võ Vương (1736 - 1765). Trong cuốn “Description historique de la Cochinchine” (Mô tả lịch sử Đàng Trong) ông viết về lễ tết như sau: “Ngày đầu tiên của tuần trăng đầu tiên là ngày lễ trọng đại nhất do tổ tiên họ quy định. Nó được tổ chức khắp nơi trong cả nước với sự đồng lòng hân hoan của mọi người. Nhà vua và các quan lại cấp cao dành hai mươi ngày liên tục cho ngày tết, và những người khác thì chỉ có ba ngày”.

“Những cây nêu lớn được dựng trong cổng cung điện của triều đình và trước cửa tất cả ngôi nhà. Ở phía đầu cây nêu, có treo một bó cây xanh hoặc những cây tre cao giống như lau sậy, chỉ còn lại một ít lá ở phần ngọn, hơi giống “cây tháng Năm” ở châu Âu.

Người ngoại đạo thêm một số đồ trang trí như những tờ giấy hơi nhuốm màu vàng hoặc bạc, một ít rơm và một cái giỏ nhỏ, trong đó họ đặt một số tiền lẻ để mua hạnh phúc mà họ mong muốn trên thiên đàng… Trên thực tế, họ phải nâng và hạ cây nêu này vào những thời điểm xác định, nhờ đó họ dự đoán điều tốt hay xấu mà năm mới sẽ mang lại cho họ”.

4. “Nam biều ký” là cuốn du ký chứa đựng những thông tin về xứ An Nam vào cuối thế kỷ 18, được ghi chép bởi những thuyền nhân Nhật Bản. Nội dung sách cung cấp rất nhiều thông tin về vùng đất, con người xứ An Nam, trong đó có ghi chép về lễ tết và tục dựng nêu ở Đàng Trong như sau: “Đêm cuối cùng của một năm, tức ngày 30, trước mỗi nhà dựng một cây tre và treo lồng đèn trên cửa. Cảnh tượng đó rất náo nhiệt. Qua ngày hôm đó chúng tôi mới hiểu ý nghĩa các món quà mà quốc vương tặng chúng tôi năm trước. Đây là phong tục của đất nước này.

Ngày đầu năm, để bắt đầu ngày lễ, họ ăn bánh mochi và dango chiên (bánh dạng viên tròn được làm bằng bột gạo). Sau đó đàn ông và phụ nữ đều mặc quần áo mới, họ ra khỏi nhà để đi chúc tụng nhau sống thọ, không khác gì ở bất cứ nước nào. Ở đất nước này, khắp nơi họ ăn tiệc chúc tụng nhau, đặc biệt là trong đêm giao thừa, vừa uống rượu vừa ngâm thơ”.

Những thông tin tư liệu trên góp phần làm sáng tỏ hơn đời sống văn hóa, thuần phong mỹ tục của người Việt ở những thế kỷ trước đây.

TAGS