Tín ngưỡng thờ thần Đại Càn

PHẠM PHƯỚC TỊNH |

Đại Càn là vị chủ thần được thờ trang trọng nhất tại nhiều đình làng ở Quảng Nam.

Một sắc phong cho vị thần Đại Càn ở xã Bàn Thạch trong Quảng Nam tỉnh tạp biên. Ảnh tư liệu: Trung tâm QLBT di sản văn hóa Hội An
Một sắc phong cho vị thần Đại Càn ở xã Bàn Thạch trong Quảng Nam tỉnh tạp biên. Ảnh tư liệu: Trung tâm QLBT di sản văn hóa Hội An

Đại Càn là tên gọi dân gian của một vị nữ thần có danh hiệu được triều Nguyễn sắc phong đầy đủ là: Hàm hoằng, Quang đại, Chí đức, Phổ bác, Hiển hóa, Trang huy, Dực bảo Trung hưng Đại Càn quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương thượng đẳng thần. 

Nguồn gốc

Về nguồn gốc thần Đại Càn, trong tác phẩm “Ô châu cận lục” do Dương Văn An biên soạn có ghi chép như sau:

“Tứ vị thánh nương: Xét trong Bản Truyện thì phu nhân họ Triệu, công chúa của nhà Nam Tống. Tứ vị thánh nương gồm mẹ và ba người con, phu nhân là con gái út. Năm Thiệu Bảo nguyên niên đời Trần Quang Tôn nhà Tống. (Bấy giờ) Tống Đoan Tông chạy ra một hòn đảo ngoài biển rồi bị bệnh mà mất. Thừa tướng Thiên Tường bị bắt, Lục Tú Phu nhảy xuống biển tự tử, Thế Kiệt bị chết đuối, số người chết kể cả tôn thất cùng với quan lại và nhân dân đến hơn một vạn.

Phu nhân và mẹ cùng ba người chị vớ được một tấm ván thuyền, dạt vào một ngôi chùa ở bờ biển, đói khổ buồn bã. Nhà sư trông thấy mà cảm thương, bèn cho ăn và bảo dưỡng mấy tháng liền.

Bốn mẹ con được nhàn hạ và no đủ nên thân thể hồi phục, dung mạo đẹp đẽ lạ thường, nhà sư trong chùa thấy thế sinh lòng tà dâm, đêm đến hỏi xin thông dâm với phu nhân. Phu nhân giữ tiết nên quyết cự lại. Nhà sư ngộ ra, lấy làm xấu hổ, bèn nhảy xuống biển trầm mình mà chết.

Mẹ con phu nhân cùng khóc và nói: Mẹ con ta đội ơn nhà sư cứu vớt nuôi dưỡng nên mới bảo toàn được tính mạng, nay nhà sư lại vì ta mà trầm mình chết, vậy thì ta còn có thể sống được hay sao. Nói rồi mẹ của phu nhân lao xuống biển, lúc ấy phu nhân và các chị cũng tự trầm theo.

Thi thể trôi dạt đến ven biển cửa Càn (Cần) Hải ở Diễn Châu nước Việt ta. Thổ dân thấy thi thể không hư tổn, bèn nói với nhau bên kia bờ biển hiểm yếu sao mà trôi mấy nghìn dặm, áo quần, dung mạo vẫn như người còn sống, xinh đẹp đến lạ lùng. Họ cho là thần, vội chôn cất cẩn thận rồi lập đền thờ cúng.

Từ đó, phàm là thuyền buôn bán gần xa, hễ gặp phong ba là vội khẩn khoản cầu khấn và chỉ trong phút chốc quả nhiên được bình an. Đến nay các cửa biển đều lập đền thờ cúng tế. Đây là vị phúc thần linh thiêng nhất của Nam Hải vậy…” (Dương Văn An, “Ô châu cận lục”, Nguyễn Khắc Thuần dịch, hiệu đính và chú giải, NXB Giáo dục, 2009, tr.95 - 97).

Còn trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, vị thần Đại Càn được ghi chép: “… Hưng Long (vua Trần Anh Tông) năm thứ 20 (1312), tháng 6, vua từ Chiêm Thành về (đến kinh đô). Các quan bái yết đều mặc áo ngắn cả, vì đồ quân phục đều bị ướt hết. Lập đền thờ thần ở cửa biển Cần Hải...

Trước đây, vua đi đánh Chiêm Thành, đến cửa biển Cần Hải (trước là Càn, tránh tên húy đổi là Cần), đóng quân lại, đêm nằm mơ thấy một thần nữ khóc lóc nói với vua: “Thiếp là cung phi nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách, gặp phải sóng gió, trôi dạt đến đây. Thượng đế phong thiếp làm thần biển đã lâu. Nay bệ hạ mang quân đi, thiếp xin giúp đỡ lập công”.

Tỉnh dậy, vua cho gọi các bô lão tới hỏi sự thực, cho tế, rồi lên đường. Biển vì thế không nổi sóng. (Quân nhà vua) tiến thẳng đến thành Đồ Bàn, bắt được (chúa Chiêm) đem về. Đến nay, sai hữu ty lập đền, bốn mùa cúng” (“Đại Việt sử ký toàn thư”, tập 2, 1993, NXB Khoa học xã hội, tr. 98.)

Qua những thông tin trên, bước đầu chúng ta có thể biết được thần Đại Càn vốn là người trần, vì chiến tranh loạn lạc và giữ tiết hạnh mà chết, trôi dạt đến cửa biển nước Đại Việt, sau do hiển linh và có công phò giúp vua Trần, nên vua cho lập đình thờ bà và tổ chức cúng tế hàng năm. Sau này, dưới thời các vua nhà Nguyễn, thần Đại Càn được tăng đẳng và có nhiều mỹ tự được gia phong như Hàm hoằng, Quang đại, Chí đức, Phổ bác, Hiển hóa, Trang huy, Dực bảo Trung hưng thượng đẳng thần.

Thần chủ vị của đình miếu

Tư liệu về thần Đại Càn được ghi chép trong “Quảng Nam xã chí” và “Quảng Nam tỉnh tạp biên” (Bản sao hiện lưu tại Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An), do Viện Viễn Đông bác cổ và Hội Văn hóa dân gian Đông Dương thực hiện vào nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước, ghi chép về các làng xã ở Quảng Nam.

Trong đó “Quảng Nam xã chí” thống kê về số lượng sắc phong thần Đại Càn ở các làng xã ở Quảng Nam bằng cách ghi chép các danh hiệu, mỹ tự và ngày tháng năm được sắc phong. Còn “Quảng Nam tỉnh tạp biên” ghi chép lại toàn văn nội dung sắc phong bằng chữ Hán cho vị thần này theo từng làng xã ở Quảng Nam.

Theo hai nguồn tư liệu trên, có tổng cộng là 420 sắc phong thần Đại Càn tại 78 làng xã ở Quảng Nam. Cụ thể, phủ Điện Bàn có 138 sắc phong, gồm 27 làng xã thuộc các tổng Phú Khương, Thanh Quất, An Nhơn, Đa Hòa, Định An, Phú Triêm, Hạ Nông, Hội An, Thanh Châu.

Huyện Quế Sơn có 40 sắc phong, gồm 6 làng xã của tổng Xuân Phú. Huyện Đại Lộc có 17 sắc phong, gồm 7 làng xã của các tổng Đức Hạ, Đại An. Riêng phủ Duy Xuyên có 225 sắc phong, chiếm 53,57% trong tổng số sắc phong cho vị thần này ở các làng xã Quảng Nam, cho 38 làng xã của các tổng Quảng Hòa, An Lễ, Mậu Hòa, Duy Đông, Mỹ Khê, Tân An, An Lạc, Phú Mỹ. 

Sắc phong cho thần Đại Càn tại các làng xã Quảng Nam có niên đại sớm nhất là vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826), muộn nhất là vào năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), và trải qua 3 lần được nâng đẳng vào năm Tự Đức thứ 33 (1880), năm Duy Tân thứ 3 (1909) và năm Khải Định thứ 9 (1924).

Triều đình cũng có 5 lần gia tặng mỹ tự cho thần Đại Càn. Qua các lần được sắc phong và các danh hiệu được gia phong thì tên đầy đủ của thần Đại Càn là: Đại Càn quốc gia Nam Hải Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Dực bảo Trung hưng tứ vị thượng đẳng thần.

Có thể thấy, tín ngưỡng thờ Đại Càn phổ biến tại các làng xã Quảng Nam trước đây. Việc thờ thần Đại Càn và đặt vào vị trí chủ thần tại nhiều đình, miếu… trong các làng xã ở Quảng Nam đã cho thấy sự sùng tín đặc biệt của những người đi biển đối với vị nữ thần này. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về vị thần Đại Càn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề lịch sử - văn hóa làng xã, đặc biệt là quá trình giao lưu - tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng ở Quảng Nam ngày xưa.