Về một đơn vị hành chính xưa

HY GIANG |

Tìm hiểu về làng xã xưa ở vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng, có một đơn vị hành chính được chép trong tư liệu Hán - Nôm ở thế kỷ 18 - 19 với tự dạng là 蔓 mà những người dịch đều đọc âm man, mạn hoặc man sách. Vậy âm đọc chính xác của đơn vị hành chính đó là gì?

Địa bàn phân bố tương đối của 7 vạn ở dinh Quảng Nam đầu thế kỷ 19. Ảnh: H.G
Địa bàn phân bố tương đối của 7 vạn ở dinh Quảng Nam đầu thế kỷ 19. Ảnh: H.G

Trong các công trình dịch thuật

Sách “Phủ biên tạp lục” (PBTL) là thư tịch quan trọng đầu tiên chép lại danh mục làng xã ở hai xứ Thuận - Quảng xưa. Về tên gọi đơn vị hành chính cấp cơ sở/dưới cơ sở, sách chép ở phủ Thăng Hoa và Điện Bàn xứ Quảng Nam có khoảng 29 đơn vị là 蔓 mà tất cả bản dịch thư tịch này đều đọc âm man.

Sách Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Dinh Quảng Nam I, II (tỉnh Quảng Nam - TP.Đà Nẵng) liệt kê dinh Quảng Nam đầu thế kỷ 19 có 7/1.046 đơn vị là man sách. Tuy nhiên, do không viết kèm chữ Hán - Nôm nên sách đã gây hiểu nhầm đơn vị “man sách” tức là hai chữ 蠻栅 và có sai nhầm về âm địa phương của các “man sách” này.

Sách Địa danh làng xã Việt Nam qua tài liệu địa bạ triều Nguyễn, Tập III: Nam Trung Bộ xuất bản gần đây cũng dịch phần địa danh có kèm chữ Hán - Nôm thì với chữ 蔓 đều đọc âm mạn và so với bản gốc mà chúng tôi tiếp cận được cũng có đôi chỗ không chuẩn xác.

Ngoài ra, qua đối chiếu với bản chữ Hán các sử tịch triều Nguyễn như “Đại Nam thực lục Tiền biên”, “Đại Nam nhất thống chí”, “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”, “Đồng Khánh địa dư chí”… với chữ 蔓, các bản dịch đều đọc âm man hoặc mạn.

Có thể thấy, âm đọc của đơn vị hành chính 蔓 có sự bất nhất và đặt ra vấn đề cần phải được làm sáng tỏ.

Đề xuất âm đọc vạn

Để đề xuất âm đọc vạn cho đơn vị hành chính 蔓 chúng tôi dựa vào một số cơ sở. Theo Khang Hy tự điển, chữ 蔓 thuộc bộ Thảo 艹 được các vận thư phiên thiết có 3 âm gồm vạn (vô phán thiết), man (mô quan thiết) và mạn (mạc bán thiết). Còn về ngữ nghĩa, riêng chữ 蔓 với âm vạn được giải thích với nghĩa gốc là loài cây thuộc giống dây leo, dây bò, mọc lan ra và các nghĩa phái sinh là lan rộng ra, kéo dài ra; trường cửu, lâu dài.

Từ điển Việt - Bồ - La (1651) đã ghi nhận có mục từ Vạn và định nghĩa là Nơi tụ tập nhiều thuyền bè để buôn bán (Alexandre De Rhodes, 1991, Từ điển Annam - Lusitan - La tinh, NXB Khoa học xã hội, tr.244). Như vậy, trong tiếng Việt, đương thời, vạn chỉ một nơi mà nhiều thuyền bè đình bạc để buôn bán.

Muộn nhất là trong các sử liệu ở thế kỷ 18, 19, chữ Hán 蔓 đọc âm vạn đã được dùng với các nghĩa phái sinh theo lối chuyển nghĩa ẩn dụ gồm: (1) tên gọi một đơn vị hành chính (PBTL soạn năm 1776; Địa bạ lập năm 1814 - 1815; Bản tấu của Bộ Hộ trong Minh Mạng tấu nghị năm 1824; Đồng Khánh địa dư chí soạn năm 1886 - 1887); (2) những chỗ nhà ở liền nhau (Đại Nam thực lục Tiền biên soạn trong thời gian từ 1821 - 1844); (3) Một phường, một hội (Đại Nam quấc âm tự vị soạn năm 1895 - 1896)... Quan hệ giữa nghĩa phái sinh này với cái biểu đạt (vỏ ngữ âm) của “vạn” 蔓 được chuyển từ nghĩa gốc nhờ khả năng liên tưởng của người Việt dựa vào thuộc tính tương đồng giữa chúng: “loài cây thuộc giống dây leo, dây bò, mọc lan ra, lộn xộn” và “thuyền bè tụ tập buôn bán lan ra trên mặt nước”, hay “những chỗ nhà ở liền nhau”...

Bên cạnh đó, ngoài chữ Hán蔓 đọc âm vạn thì chữ 澫 vạn (có bộ Ba chấm thủy) cũng đã từng được đặt làm một đơn vị hành chính. Từ thời vua Minh Mạng trở đi, đơn vị hành chính vạn 蔓 có xu hướng bị xóa bỏ và bị đơn vị 澫 vạn thay thế dần, dẫn đến khoảng đầu thế kỷ 20, đơn vị vạn 蔓 đã biến mất. Vạn 蔓 với tầng nghĩa là 1 đơn vị hành chính chỉ còn được tìm thấy trong các tự điển trước thế kỷ 20 cũng như việc đã biến mất trong hệ thống đơn vị hành chính cho thấy nó đã trở thành một từ cổ trong tiếng Việt.

Như vậy, thời cổ, chữ 蔓 có 3 âm đọc vạn, man và mạn nhưng người dịch, các nhà nghiên cứu thường chỉ chú ý đến âm man, mạn mà ít để ý đến âm đọc vạn của nó. Nguyên nhân một phần có lẽ là vì đơn vị vạn đã trở thành một từ cổ từ đầu thế kỷ 20; mặt khác, do các chữ 蔓, 曼, 萬 thời cổ lại thông với nhau, mà 蔓 có thanh bằng 曼 (man) khiến dễ đọc âm man hoặc mạn (thay vì vạn).

Đơn vị vạn ở Quảng Nam xưa

Sách PBTL chép xứ Quảng Nam có 29 vạn như vạn Bàn Thạch, Dưỡng Mông, Hà Nhai, Trung Phước, Diêm Điền... Đặc biệt là phần lớn các vạn này (20/29) thuộc thuộc Thương Nhân Hội Tân - quy tụ cư dân các làng xã chủ yếu làm nghề buôn bán. Điều đó cho thấy sự tương hợp giữa nghĩa của từ vạn trong Từ điển Việt - Bồ - La với đơn vị hành chính 蔓 được PBTL ghi chép. Số ít vạn thuộc về thuộc Võng Nhi (chuyên nghề làm lưới, đánh cá), thuộc Phụ tịch tượng (thợ dệt chiếu) của phủ Thăng Hoa và tổng Mông Lãnh, tổng Phiếm Ái của phủ Điện Bàn.

Đến đầu thế kỷ 19, dinh Quảng Nam có địa bạ của 7 vạn 蔓 gồm Nồi Rang, Bến Cỏ, Tân An, Tăng Sà, Liên Trì, Phú Tài, Phước An Tây Cây Trâm Cồn Xây (?). Về mặt kinh tế, chủ yếu dân vạn có nghĩa vụ nộp thuế trên các sở thủy điền - tức giới hạn quãng mặt nước “độc quyền” mà dân vạn sinh sống, hành nghề trên đó. Trừ vạn Tân An, các vạn vào đầu thế kỷ 19 đều có thủy điền, đăng, đáy và phải nộp thuế thường niên. Nhờ tứ cận hoặc giới hạn thượng lưu - hạ lưu của thủy điền mà địa bạ mô tả, chúng ta thấy rõ địa bàn phân bố của các vạn nằm trên các quãng sông lớn như Trường Giang (Bến Cỏ), Vĩnh Điện (Liên Trì) hoặc ở vị trí ngã ba sông như Trường Giang - Tam Kỳ đến cửa An Hòa (Phước An Tây Cây Trâm Cồn Xây), Cẩm Lệ /sông Hàn - sông Cái - Cổ Cò (Phú Tài), Cẩm Lệ - sông Yên - sông Thúy Loan (Tăng Sà) hoặc gần nơi cửa sông Thu Bồn đến Cửa Đại (Nồi Rang).

Vạn 蔓 ở Quảng Nam thế kỷ 18 - 19 là một đơn vị hành chính tương đương cấp cơ sở hoặc dưới cơ sở, có các chức dịch như một xã thôn trên cạn (đứng đầu có chức cai vạn, vạn trưởng cùng hội đồng trưởng lão). Hầu hết vạn thống thuộc vào một tổng, một thuộc với các làng khác ở cạn, còn số ít vạn phụ thuộc một xã thôn ở trên cạn. Vạn cũng có đặc điểm riêng biệt đời sống văn hóa - xã hội của cư dân sông nước.

Đơn vị hành chính 蔓 ngoài âm đọc man hoặc mạn còn có âm vạn. Bên cạnh các nguồn sử liệu, ngữ liệu đã dẫn, việc tìm hiểu về các vạn ở Quảng Nam trong lịch sử cũng là cứ liệu quan trọng giúp chúng tôi đề xuất âm đọc vạn cho đơn vị hành chính 蔓. Điều này giúp lưu ý người dịch, nhà nghiên cứu cần cẩn thận xem xét âm đọc của chữ 蔓 khi nó xuất hiện trong các tài liệu từ đầu thế kỷ 20 trở về trước.