Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Thuận lợi từ công nghệ theo dõi rừng

TRẦN HỮU |

Quỹ bảo vệ - phát triển rừng tiếp tục tập huấn cho các chủ rừng, cộng đồng dân cư, người dân sử dụng các phần mềm công nghệ mới để triển khai bộ công cụ giám sát, theo dõi diễn biến rừng hiệu quả.

Người dân sử dụng máy tính bảng khi tuần tra, theo dõi diễn biến rừng. Ảnh: T.H
Người dân sử dụng máy tính bảng khi tuần tra, theo dõi diễn biến rừng. Ảnh: T.H
 

Phổ biến công nghệ giám sát rừng

Từ tháng 8 đến nay, Quỹ bảo vệ - phát triển rừng tổ chức triển khai tập huấn sử dụng phần mềm ODK Collect trên máy tính, điện thoại di động cho các nhóm, cộng đồng thôn tham gia bảo vệ rừng (BVR) tại các khu vực rừng phòng hộ Nam Sông Bung, A Vương, Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh và Ngọc Linh. ODK Collect là phần mềm công nghệ mới, giống với phần mềm sử dụng trên hệ thống WebGis đã sử dụng trước đó tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Kôn, Đắc My, Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, nhằm theo dõi, tuần tra, giám sát rừng.

Theo Quỹ bảo vệ - phát triển rừng, thời gian qua, có nhiều tổ chức, đơn vị sử dụng nhiều phần mềm, công nghệ phục vụ trong công tác điều tra rừng, quản lý cơ sở dữ liệu, cập nhật diễn biến rừng, nhưng phần lớn đối tượng được sử dụng là các lực lượng kiểm lâm chuyên trách, nhân viên hợp đồng BVR có trình độ. Tuy nhiên, thực tế việc triển khai gặp khó khăn do trình độ dân trí của người dân miền núi thấp, đời sống khó khăn, khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế. Việc áp dụng phần mềm ODK Collect sẽ giúp mọi đối tượng nhận khoán BVR có thể nắm biết các thông tin cơ bản như diện tích, hiện trạng, số kinh phí mình nhận được, công tác tuần tra của các chủ rừng. Sở NN&PTNT đánh giá, việc đầu tư công nghệ đã nâng cao khả năng tương tác giữa nhà quản lý và chủ rừng cũng như đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), giúp cho chính sách chi trả DVMTR được minh bạch, công bằng và hiệu quả đúng theo tinh thần của Nghị định 05 của Chính phủ về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.

Theo các chủ rừng là ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, với các phần mềm ODK Collect, WebGis, cộng đồng, nhóm hộ, hộ gia đình thay vì phải báo cáo bằng văn bản giấy về tình hình thực hiện chính sách chi trả DVMTR như lâu nay thì có thể sử dụng máy tính bảng để báo cáo, giảm bớt các chi phí đi lại, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Giám đốc Quỹ bảo vệ - phát triển rừng - ông Huỳnh Đức nhìn nhận, so với cách theo dõi diễn biến tài nguyên rừng truyền thống (sử dụng các biểu mẫu trên giấy in), thì phương pháp sử dụng công nghệ mới đảm bảo hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng hoạt động hiệu quả hơn bằng cách cải thiện chất lượng số liệu (thông qua chức năng GPS), tăng cường độ tin cậy của số liệu (thông qua các bức ảnh chụp được gắn thẻ địa lý) và nâng cao tính hiệu quả trong quản lý số liệu (bằng việc chuyển dữ liệu dạng số và sử dụng máy chủ đặt tại trung ương). Việc giám sát rừng bằng công nghệ là một trong những điều kiện cần có để Quảng Nam nhận được chi trả dựa vào kết quả thực hiện REDD+ (giải quyết sự tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu thông qua giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng, suy thoái rừng, tăng cường, bảo tồn trữ lượng các-bon rừng và quản lý rừng bền vững) trong khuôn khổ các thỏa thuận quốc tế về biến đổi khí hậu.

Cần đẩy mạnh giao đất giao rừng

Cơ chế vận hành chi trả DVMTR tại Quảng Nam cũng như nhiều địa phương khác chủ yếu dựa vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh. Các quỹ sẽ ký hợp đồng với người mua dịch vụ và thu tiền từ các bên sử dụng DVMTR.  Trong 4 dịch vụ môi trường được quy định thì hiện nay Quảng Nam mới chỉ có 2 dịch vụ được thực hiện do thiếu các cơ sở pháp lý và các hướng dẫn chi tiết về Nghị định 99 và 156 quy định các loại dịch vụ môi trường phải chi trả. Do việc chi trả DVMTR hiện nay hầu hết dựa trên các hồ sơ chính thức về giao đất/các hợp đồng giao khoán BVR, nên những người cung cấp dịch vụ môi trường phải có được một giấy chứng nhận nào đó mới được nhận tiền chi trả. Trong khi đó, bất cập lớn nhất hiện nay ở miền núi là khối lượng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rất hạn chế, hàng nghìn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã ký chưa thể bàn giao cho người dân do có sự sai sót giữa hồ sơ giấy tờ và thực địa. Để tháo gỡ vướng mắc này, thời gian qua, ngân sách tỉnh đã hỗ trợ hàng chục tỷ đồng cho 9 địa phương miền núi, trung du đo đạc, chỉnh lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất lâm nghiệp.

Tỷ lệ giải ngân tiền chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh cơ bản kịp thời, nhưng vẫn còn thấp do công tác kiểm kê rừng chưa hoàn thiện, sự chậm chạp trong việc giao đất, giao rừng, số lượng lớn người cung cấp dịch vụ sống rải rác tại các vùng sâu, vùng xa và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan. Trong khi đó, thiếu sự rõ ràng về ranh giới diện tích rừng của các chủ rừng giữa bản đồ và ở thực địa. Việc sử dụng ảnh viễn thám và ảnh vệ tinh từ Google Earth hoặc các công nghệ khác có thể hỗ trợ rất nhiều cho việc thiết lập các thông tin và dữ liệu cơ sở, giúp theo dõi diễn biến rừng hiệu quả. Trước bất cập là người dân không được hưởng quyền lợi nhận tiền quản lý BVR theo Nghị định 75 năm 2015 của Chính phủ, Sở TN&MT vừa đề xuất UBND tỉnh khẩn trương phê duyệt hỗ trợ kinh phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở 9 huyện miền núi, trung du.

TAGS