Nói cuộc vô thường

LÊ TRÂM |

Đọc “Sông nói cuộc vô thường” - tập tùy bút của Phạm Nguyên Tường (NXB Thuận Hóa), chừng như những được mất trong cuộc đời này cứ theo sông theo suối mà ra biển, đọng lại ước vọng an lành cho muôn phương...

 

Phạm Nguyên Tường đã in 7 cuốn sách cả thơ và văn: “Hoa cúc mùa thu”, “Lá tháng Chạp”, “Quang gánh và những bài thơ khác”, “Chết như thế nào”, “A Lưới đồng bào mình”, “Hóa vàng đi Tường”, “Sông nói cuộc vô thường”.

Những ám ảnh

Có lẽ từ sự chi phối của công việc (anh là bác sĩ chuyên khoa ung bướu) thường xuyên tiếp xúc với lằn ranh của sự sống và cái chết lại thêm kiến văn rộng, các sáng tác của Phạm Nguyên Tường có một bề sâu khá đặc biệt.

Nó luôn kéo dài từ thực tại lui về quá khứ, hướng tới  tương lai, từ hiện tồn kéo dài qua cái chết và kể cả những ám ảnh tận sau cái chết. Nhà văn là cháu ngoại của Tam Kỳ viết về Chiên Đàn, về Mẹ: “Chiên Đàn Mẹ tôi. Mẹ là nữ thần Uma, sáu tay, “hai tay chắp lại trên đầu, bốn tay còn lại cầm cung tên, đinh ba, vòng”.

Mẹ là Đấng Tạo Hóa hay là Đấng Bảo Hộ tối cao hiện thân trong những tượng thần Siva, Venus, Brahma thờ trong ba cụm tháp. Không, thật ra mẹ không cầm cung tên, đinh ba hay vòng. Mẹ không ngồi trên đài sen mà phóng vào gió bụi, nắng mưa.

Những năm hậu chiến đói kém, mẹ múa lượn trên khắp bến xe, ga tàu…, tay ôm vai vác gói áo quần nặng trịch bán cho khách đường dài. Mỗi buổi trưa bới cơm lên ga Huế cho mẹ, tôi thử vác giỏ áo quần nặng đến oằn lưng... Có ai cầu nguyện cho Chiên Đàn Mẹ tôi qua thời vàng son - thời của nhưng lao lực cùng kiệt?”.

Tôi chững lại khi đọc những dòng chữ cuối của Chiên Đàn: “Mẹ tôi từng nói: nếu ngày đó ở nhà ngoại mẹ không kịp phát hiện ra tôi bị nhiễm trùng rốn và tự tay xử lý, chắc tôi đã chết rồi”.

Đó là sự bế tắc của những ngư dân ở vùng biển ngang, luôn đối diện với cái đói cái nghèo và cả cái chết. Tất cả hiện lên buồn bã qua hình ảnh một bữa “làm chén rượu giãn gân giãn cốt” với cút rượu trắng và con cá hấp trơ xương ngay buổi mưng sáng.

Những cái chết kiểu: “Buổi sáng còn ăn bún của nó, trưa đã đi thắp hương cho nó rồi!”… Cái chết lẽ nào lại là “sự sáng tạo duy nhất, tuyệt vời nhất của cuộc sống. Đó là tác nhân làm thay đổi cuộc sống.

Cái chết đã làm sạch những thứ cũ kỹ để mở đường đón chào những gì mới mẻ” (Steve Jobs). Lẽ nào, cuộc sống là cuộc xóa đi làm lại… “Có phải là tiếng sóng biển rì rào ngoài kia? Xóa đi làm lại, … xóa đi làm lại… cứ thế thôi” (Xóa đi làm lại).

Dù sao thì cuộc sống vẫn cứ tiếp diễn. Những bài viết về Phước Yên, từng là nơi đóng dinh của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên trong suốt 10 năm (1626 - 1636), giúp hình dung nên sự thay đổi của cả vùng đất này sau 400 năm (Phước Yên trong tiếng rau xanh, Phước Yên… và xanh mãi). Tương tự như vậy, những hưng phế, công tội ở danh hương Mỹ Lợi trong 450 năm gắn với bao số phận người.

Mạch nguồn xúc cảm

Phạm Nguyên Tường đi nhiều nơi trên thế giới. Dưới con mắt một nhà văn, một chuyên gia về ung bướu luôn phải chứng kiến bao lần con người bấp bênh giữa cái chết và sự sống, Phạm Nguyên Tường có những chiêm nghiệm mang dấu ấn rất riêng.

Chiều qua sông. Ảnh: Võ Văn Tiến
Chiều qua sông. Ảnh: VÕ VĂN TIẾN

Có lẽ, Phạm Nguyên Tường không giấu khi “bày biện” cảm nhận của mình về cuộc đời phần nào trong “Sawara sông nói cuộc vô thường” khi tới thăm viếng, cảm nhận và viết về một thị trấn nhỏ, tĩnh lặng thuộc thành phố Katori, tỉnh Chiba (Nhật Bản).

Vốn là thương cảng sầm uất từ thời kỳ Mạc phủ Tokugawa, “giàu hơn cả Edo” (tức Tokyo ngày nay), qua bao thăng trầm giờ đây Sawara trở nên vô cùng tĩnh lặng… Dòng sông Ono nhỏ hẹp vốn nhộn nhịp bây giờ chỉ như một con kênh uốn lượn với những cây cầu gỗ bắc ngang bờ kè đá rêu sờn và những cây liễu phủ bóng xanh rờn như muốn phơi bày hết “cuộc vô thường”.

Nhà văn Lê Vũ Trường Giang nhận xét rất xác đáng về tùy bút này: “Phạm Nguyên Tường nhẹ nhàng đưa người đọc đến với một thông điệp có tính phổ quát. Bên dòng sông Ono của nước Nhật, tác giả trải lòng mình nhận diện về vũ trụ, nhân sinh, về quê hương bản quán khi đối diện với dòng sông không ngừng chảy”…

Vẫn là những ám ảnh không dứt về những gì ẩn chứa trong “Rỗng rang đến hết”, tôi chỉ tâm đắc một thông điệp tử tế, giản dị và phù hợp với trường nghĩa rộng hơn, “hãy cố gắng để trống rỗng trước khi rời khỏi thế giới này”, hãy thật là “Rỗng rang nằm xuống”…

Hay, “Khó nhất là phải giữ cho mình một mạch nước ngầm chảy mãi, để được như nước giếng: đầy đặn mỗi ngày, trong veo mỗi ngày. Mong nhất là đừng để ai phải tiếc hoài một sợi dây gàu dài, đừng ai đổ bể tan hoang bên giếng, đừng ai oán thù giếng loạn, đừng ai là trăng nơi đáy giếng, lộng giả thành chân…, những câu chuyện gió nước muôn đời của giếng” (Tinh thần của giếng).

Tác phẩm của Tường dường như luôn có được “sự nối dài” trong mỗi người đọc.