Người thắp đèn cho núi

LÊ QUANG TRẠNG |

Tự bao giờ, những ngọn núi đã chất chồng, ngồi kề nhau tạo thành một vùng sơn cước bí ẩn đầy hiểm trở, mà cũng chứa đựng sự hấp dẫn ngọt ngào, như tình yêu của đất trời tựu nở. Thầy mường tượng như vậy khi tìm thấy trong thư viện những dòng chữ miêu tả về bản làng có cây thuốc Đăng Tâm. Dòng chữ chạy trong đầu như luồng điện mang đến bao cảm xúc. Có lúc thầy thấy lòng mình rộng mở mênh mông; có lúc lại thấy chùn bước trước sự hiểm trở của núi đồi và khó khăn của bản.

Minh họa: HIỂN TRÍ
Minh họa: HIỂN TRÍ

Ngày tốt nghiệp, trùng hợp với ngày báo in phóng sự miêu tả về sự tuyệt chủng của cây Đăng Tâm và in hình đứa trẻ mù chữ, chân trần, cầm bao bì hộp bánh quy bị ngược. Hình như đứa trẻ rất muốn đọc những dòng chữ in trên chiếc hộp? Thầy chợt lóe lên ý nghĩ ấy và thấy có một điều gì đó vừa tách vỏ tự đáy lòng mình, giống như hạt Đăng Tâm vừa nhú lên mầm sống!

Thầy đến núi khi áo vẫn xanh màu mây và tóc vẫn xanh màu ước vọng. Đường quanh co khúc khuỷu, cán bộ huyện đưa thầy băng rừng lội suối đến bản, đôi mắt như vừa mừng vừa lo: “Năm nào em cũng đưa thầy giáo lên đây, mấy bữa em lại lên đưa về”.

Nhưng lần ấy thầy lên núi rất lâu. Cho đến khi tôi ra đời và lớn lên, thầy vẫn ở đó. Tôi vẫn nhớ những ngày thơ ấu của mình với núi. Hồi ấy đường lên núi vẫn là những lối mòn quanh co, đoạn là bậc thang, đoạn là đường mòn phải lách người qua các mỏm đá.

Mỗi sáng tinh mơ thầy thức dậy nấu cơm, hái đầy một giỏ rau rừng, vài nắm lá thuốc. Mặt trời nhú lên phía cánh đồng ở chân núi, tôi thức dậy ăn cơm rồi thầy dắt tay tôi xuống núi. Có những ngày mưa rừng rả rích, thầy cõng tôi lên lưng, rồi phủ tấm ny lon che cho hai thầy trò đỡ lạnh.

Tôi áp mặt vào cổ thầy, hai tay choàng ra phía trước, cầm lấy cái giỏ đựng rau rừng hoặc vài nải chuối, củ khoai, lá thuốc. Mớ rau củ ít ỏi đó, thầy đổi lại được ít muối đường, mì gói để buổi chiều bên mâm cơm, còn có mớ canh là tô mì tôm nghi ngút khói. Thầy hay nói, “hồi ấy con bị còi xương, nên nhẹ cân nhỏ xíu”. Điều đó an ủi tôi rằng, cõng đứa trẻ còi xương xuống núi sẽ không quá cực nhọc như cõng một bao gạo ba mươi ký lô.

Mấy năm sau, người ta mở một con đường nhỏ từ chân núi lên ngôi chùa trên đỉnh gần chạm với mây. Thầy không còn phải đưa rước tôi ngày hai bận nữa. Mỗi ngày tôi chờ đến buổi, những đứa trẻ trong bản đi ra, các chú tiểu mồ côi trên chùa sẽ lội bộ xuống núi đi học, đi ngang trường thế nào cũng rủ tôi đi cùng.

Một bầy trẻ lao xao đi học, mỗi đứa kể một câu chuyện về mình. Có đứa ba mẹ ly dị nên được gửi lên chùa; có đứa cha chết, mẹ có chồng khác nên cũng lên đây. Riêng tôi không có câu chuyện nào thê thiết và sinh động, ngoài lời thầy kể, thầy sinh ra tôi vào một bữa mưa đêm.

Những đứa bạn không tin điều tôi nói. Bọn nó bảo rằng, một ông thầy giáo sao lại có thể sinh ra tôi được? Chắc chắn rằng tôi phải có mẹ, nhưng mẹ tôi là ai?

*
*         *

Nỗi tò mò của tôi sau nhiều ngày lại được bà bán rau ở chân núi giải đáp. Bà kể rành rọt đầu đuôi rằng, năm xưa khi thầy còn trẻ ơi là trẻ, thầy đã đến ngọn núi này. Ngọn núi chỉ có mấy mươi nóc nhà và ngôi chùa nhỏ nuôi hơn chục trẻ mồ côi. Sư thầy ở chùa thấy không thể để đám trẻ mù chữ nên đã xin với nhà nước mở trường tiểu học nhỏ.

Ngôi trường đơn sơ một phòng học và một gian làm chỗ ở cho thầy giáo. Năm ấy vừa mới ra trường, thầy đã tình nguyện về vùng sâu vùng xa này để hai năm sau sẽ được chuyển thẳng về gần nhà, sớm nhất. Nhưng mọi thứ đâu phải khi nào cũng như liệu định. Thầy ở lại đây mười mấy năm rồi, chắc phải đến về hưu mới “xuống núi được”.

Bà ngưng kể hồi lâu, như trong bà cũng cần chờ cho nỗi lòng lắng xuống.

Trường lập được một năm, thì một đêm mưa có tiếng trẻ con khóc ở hành lang trường. Ban đầu tưởng tiếng mèo kêu, nhưng lòng thầy thấy bất an lạ, nên bước ra xem thì bắt gặp được tôi. Khi ấy tôi là đứa trẻ sơ sinh nằm trong cái giỏ quần áo, kèm theo lá thư. Tôi chỉ biết nội dung lá thư qua lời kể của sư thầy trên núi, rằng mẹ tôi là đứa trẻ mồ côi của bản.

Năm đó mười bảy tuổi, mẹ sinh ra tôi. Tục tệ của bản không chấp nhận một đứa trẻ không cha, trừ khi phải tìm cho được hạt Đăng Tâm, tắm gội rửa tội cho mẹ con đứa nhỏ. Cây Đăng Tâm đã tuyệt chủng từ rất lâu và tộc trưởng cũng không thể nào chấp nhận đứa trẻ khác màu da của tộc. Vậy là mẹ phải rời bản ra đi, trong lúc không biết phải làm gì để nuôi được đứa nhỏ, mẹ đã bỏ tôi lại ngôi trường.

Tối ấy khi đi theo tiếng khóc và tìm thấy tôi, thầy hoang mang đem đứa nhỏ vào phòng, đốt lửa hơ cho ấm lại. Trong sự bối rối vô cùng, thầy quấn tôi lại bằng mấy lớp áo bông. Bận áo mưa thầy băng lên đỉnh núi, nơi ngôi chùa vẫn còn thoảng bay mùi nhang.

Sư thầy và những người ở núi đã cưu mang tôi ở chùa cùng đám trẻ mồ côi. Đến khi tôi biết ăn thì thầy đón tôi về lại trường. Năm ấy vẫn chưa có giáo viên nào lên núi thay thế, thầy cũng không nộp đơn xin về quê. Vậy là số phận của tôi níu thầy lại nơi này.

Tôi đem câu chuyện về hỏi thầy có đúng như vậy hay không, trong những giọt nước mắt rơi như không bao giờ cạn được. Thầy ôm tôi vào lòng, “con có thầy, có ông bà, con không phải mồ côi, Hiếu!”. Lòng tôi dịu lại, những giọt nước mắt ngừng rơi, tôi mệt sau cơn khóc như mưa nên đã thiếp đi tự bao giờ.

Tôi thường có nỗi nhớ ông bà như những đứa trẻ khác nhớ thương nội ngoại. Từ những năm ấu thơ, cứ vài tuần ông bà lại từ quê lên núi thăm thầy và tôi. Ông mang theo gạo muối và những quyển sách đầy màu sắc. Bà mang cho tôi những bộ quần áo bông dày và những món đồ chơi đâu phải đứa trẻ nào cũng có.

Tôi thường tò mò hỏi thầy bao điều thắc mắc, khi đêm về thầy thắp những ngọn đèn ở phía vườn thuốc bên hông trường. Người ta nói rằng, cây phải hấp thụ nhiều ánh sáng hơn bóng tối thì mới ra hoa. Thầy truy tìm suốt mười mấy năm qua mới ra được cây Đăng Tâm cứ tưởng rằng đã tuyệt chủng.

Thầy đem cây về mày mò nghiên cứu, thì ra đây là một giống thuốc quý của ngọn núi này, có công dụng làm người ta mở lòng và yêu thương nhau hơn. Thầy đã dốc lòng trồng cho cây Đăng Tâm sống, bước đầu thành công ấy đã giúp thầy thuyết phục được tộc trưởng cho những đứa trẻ xuống trường học chữ. Thầy hay nói với tôi rằng, khi nào cây Đăng Tâm ra trái, thì thầy mới yên tâm trở về quê.

*
*           *

Thấm thoát, tôi sắp bước vào kỳ thi phổ thông. Thầy hỏi, con thích thi vào ngành gì. Tôi trả lời rằng con thích ngành y, để sau này về núi mở trạm xá như thầy năm xưa đã đến đây dạy học. Thầy vừa mừng vừa lo, mừng bởi tôi yêu núi như yêu quê hương ruột thịt, nhưng lo vì đồng lương nhà giáo và thu nhập từ những bó rau của thầy, khó mà nuôi tôi học đủ đầy đến nơi đến chốn.

Kỳ thi tốt nghiệp năm ấy, những đứa trẻ ở núi đều đỗ điểm cao. Thầy mừng vui gọi điện về khoe với ông bà. Nhưng niềm vui ấy bỗng chợt khựng lại khi người đàn bà xa lạ tìm đến gặp thầy. Hôm ấy trời chập choạng tối, người đàn bà xuất hiện ở trường làm tôi sựng lại. Xưa nay vào những buổi chiều tối, hầu như ít ai đến trường ngoài những đứa trẻ. Tôi bước vào căn phòng, gật đầu chào người đàn bà. Bà nhìn tôi với đôi mắt ứa lệ. Thầy nói:

- Thằng Hiếu năm nay mười tám tuổi.

Người đàn bà bỗng ôm tôi vào lòng, bà khóc như mưa:

-  Con ơi, con ơi, mẹ nè con ơi!

Tôi vùng ra. Bà bất ngờ, hai tay ôm mặt khóc:

- Đến con tôi nó cũng không nhận ra tôi, trời ơi, quả báo này tôi phải chịu...

Thầy đứng dậy lại gần tôi, giấu nỗi xúc động trong lòng, thầy nói:

-  Mẹ của con nè Hiếu, con gọi mẹ, để mẹ đừng buồn, con!

Tôi vẫn đứng yên trong cảm xúc trắng xóa. Đêm ấy người đàn bà xuống núi. Trước khi đi, bà nói với thầy, “mong thầy suy nghĩ cho thật kỹ”. Bà đi. Thầy nhìn theo bà rồi nhìn vào ngôi trường có những nhánh cây Đăng Tâm vẫy theo gió. Thầy trằn trọc không ngủ cả đêm, sáng ra mắt thầy mệt rõ. Thầy gọi tôi lại rồi nói:

- Hiếu này, ai cũng phải có cha có mẹ. Công ơn sinh thành không có gì sánh bằng đâu con.

Tôi lặng im rất lâu, thầy cũng lặng im, tôi nghe mũi thầy nghèn nghẹn. Tôi: “Dạ thầy”. Thầy ngước mặt nhìn tôi rồi nói tiếp:

-  Con theo mẹ về phố, ở đó con sẽ tiện bề học ngành nghề con yêu thích, con sẽ có tương lai tươi sáng.

Nghe thầy nói tới đây, không hiểu sao tôi bỗng buồn rười rượi. Người đàn bà vẫn đến trường trong ngày hôm đó và hôm sau. Tôi và thầy không nhắc đến chuyện về phố nữa nhưng tôi biết ai trong chúng tôi cũng có những nghĩ suy rất mênh mông. Hôm thứ ba, người đàn bà ít khóc hơn, nhưng mắt bà vẫn đỏ. Bà đi những bước khó khăn mệt nhọc bước vào phòng. Tôi lấy chiếc ghế mời bà:

-  Mẹ ngồi đi mẹ!

Bà òa khóc ôm chầm lấy tôi, “con về phố với mẹ nghe con”. Tôi quệt nước mắt gật đầu.

Tôi theo mẹ xuống núi, thầy đứng ở cổng trường cùng đám bạn nhìn theo. Điều lạ, hôm ấy tộc trưởng và nhiều đứa trẻ của bản cũng đến tiễn tôi. Thầy dúi vào tay tôi một cái túi nhỏ, “cây Đăng Tâm đã ra trái rồi đó con”.

Tôi vẫn giữ túi hạt Đăng Tâm khi về phố, mỗi khi yếu lòng tôi mở túi ra xem, lòng bỗng thấy ấm lại vô cùng. Cái ấm như những ngọn đèn soi cho cây Đăng Tâm trổ hoa nơi ngọn núi phía xa. Nơi ấy có thầy và bè bạn của tôi, họ vẫn không thôi thắp đèn, thắp lòng mình cho cây Đăng Tâm nở mãi…