KỶ NIỆM 55 NĂM THÀNH LẬP CHI HỘI VĂN NGHỆ GIẢI PHÓNG TRUNG TRUNG BỘ (1967-2022)

Vùng ký ức không quên...

XUÂN HIỀN |

Trên mảnh đất dày những hiểm trở, trong khói lửa chiến chinh, họ đã hát ca, làm thơ, viết văn, vẽ đất và người... Những mảng sống động và nóng hổi của bức tranh đời sống dân tộc, của vùng đất Liên khu 5, được giữ trọn vẹn từ tâm hồn của người nghệ sĩ...

Đoàn văn nghệ sĩ về thăm Khu di tích Nước Oa tại huyện Bắc Trà My. Ảnh: QUẾ HÀ
Đoàn văn nghệ sĩ về thăm Khu di tích Nước Oa tại huyện Bắc Trà My. Ảnh: QUẾ HÀ

Hôm nay 11.5 , đoàn văn nghệ sĩ kháng chiến Khu 5 thời kỳ chống Mỹ bắt đầu chuyến về thăm chiến trường xưa tại Quảng Nam. Từng mảnh đất, từng câu chuyện đã nằm sâu, hồ như lại lần nữa thổn thức...

Lần giở tư liệu

Lần giở lại những dấu mốc lịch sử, để theo lớp lang mà có được một thế hệ cầm bút và chiến đấu tại vùng đất Trung Trung bộ, cùng những tác phẩm còn đủ dậy niềm xúc động với người đọc, người xem bây giờ. Xin nhắc lại nguồn cơn để có một Chi hội Văn nghệ giải phóng Trung Trung bộ, với đại hội lần đầu từ ngày 1.11.1967.

Tư liệu từ nhà báo lão thành Đặng Minh Phương cho biết, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Tuyên huấn Khu ủy 5, các bộ phận công tác văn nghệ từng bước được tổ chức từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều, từ khu đến tỉnh, huyện, xã.

“Được sự chi viện của Trung ương, đầu năm 1961, một nhóm văn công 3 người là Phạm Thủy, Nay Quách, Hiền Minh người Khu 5 tập kết ra Bắc trở về cùng với cán bộ tại chỗ làm nòng cốt tổ chức các công tác văn nghệ.

Tháng 6.1961 một số cán bộ văn nghệ của Tuyên huấn khu được điều động sang Cục Chính trị Quân khu, phối hợp tổ chức Đoàn Văn công giải phóng Quân khu 5.

Bắt đầu từ năm 1962, các hoạt động xây dựng phong trào văn nghệ miền núi từng bước phát triển. Nổi bật là việc xây dựng thành công Đoàn văn công giải phóng tỉnh Kon Tum và Đoàn văn công giải phóng miền Tây tỉnh Quảng Nam.

Hoạt động của 2 đoàn chủ yếu là biểu diễn ca múa nhạc phục vụ nhân dân, tuyên truyền kháng chiến; bước đầu gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về vật chất, kể cả ốm đau, đói kém, nhưng đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển của phong trào văn nghệ hai tỉnh Kon Tum, Quảng Nam và cả miền Trung Trung Bộ” - nhà báo Đặng Minh Phương viết.

Với mảnh đất Quảng Nam, qua những tư liệu về lịch sử văn nghệ miền Trung Trung bộ, sự kiện trọng đại chính là Đại hội Chi hội Văn nghệ giải phóng Trung Trung bộ được tổ chức tại Nước Vin, thuộc huyện Trà My bấy giờ, là vùng căn cứ kháng chiến của Liên khu 5.

Trong số báo số 66, Báo Cờ Giải phóng - cơ quan của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Trung Trung bộ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Đại hội Chi hội Văn nghệ được trang trọng đăng trang nhất.

Được nhìn nhận là thời điểm chín muồi, cuối năm 1967, với sự lớn mạnh vượt bậc của đội ngũ văn nghệ sĩ và phong trào văn nghệ quần chúng ở Khu 5, Đại hội quy tụ 160 văn nghệ sĩ của khu vực Trung Trung bộ. Đại hội tiến hành liên tục trong 10 ngày, là dịp tổng kết và đánh giá hoạt động của văn nghệ Liên khu 5 từ sau hiệp định Giơ-ne-vơ, đặc biệt là từ khi thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Trung Trung bộ năm 1962. 

Trong diễn văn đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của Ban Tuyên huấn Khu 5 ghi nhận rằng, văn nghệ Khu 5 đã tập hợp được một lực lượng sáng tác đầy tài năng.

Từ nhà văn Phan Tứ viết tiểu thuyết “Gia Đình Má Bảy” và “Mẫn và Tôi”, Thu Bồn có Trường Ca Chim Chơ Rao..., các họa sĩ Thế Vinh, Lý Châu Hoàn, Hà Xuân Phong, Trần Việt Sơn, Hồng Chính Hiền, Giang Nguyên Thái có nhiều ký họa chân thực cảm động về đồng bào chiến sĩ Khu 5 thời đánh Mỹ…

Lực lượng văn nghệ sĩ Khu 5 dũng cảm bám dân bám chiến trường, nơi mà “mỗi hạt cát ở đây đều được luyện từ máu”, đã có những người nghệ sĩ hy sinh, là nhà văn Chu Cẩm Phong, Dương Thị Xuân Quý, nghệ sĩ múa Phương Thảo, nhà thơ Nguyễn Mỹ...

Nhà báo lão thành Đặng Minh Phương cho rằng, hơn 20 năm hoạt động, lực lượng văn nghệ Khu V đã gắn bó máu thịt với cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng, đã phát huy tác dụng rất lớn lao.

Văn nghệ đã có sức truyền cảm, giáo dục, thuyết phục, động viên quần chúng và tấn công mạnh mẽ kẻ thù trong những ngày đen tối cũng như trong cuộc chiến đấu quyết liệt, toàn diện với quân địch. Văn nghệ đã kết hợp chặt chẽ với các mũi tấn công vũ trang, chính trị và binh địch vận, thực sự trở thành một mũi tấn công mãnh liệt có hiệu quả.

Sứ mệnh đặc biệt

Nhà văn Nguyễn Bá Thâm, thật may, trải qua những trận càn và binh lửa, đôi chân vẫn đủ sức để rong ruổi suốt các miền của xứ Trung bộ, từ sau ngày Giải phóng. Nguyễn Bá Thâm là một trong số những nhà văn trẻ mà năm 1971, Trung ương đã chi viện cho Khu 5.

Đại hội Chi hội Văn nghệ giải phóng Trung Trung bộ lần thứ I năm 1967 được đăng trên báo Cờ Giải phóng. Ảnh: T.L
Đại hội Chi hội Văn nghệ giải phóng Trung Trung bộ lần thứ I năm 1967 được đăng trên báo Cờ Giải phóng. Ảnh: T.L

Đoàn khi ấy, theo nhà văn Nguyễn Bá Thâm, gồm 21 anh chị em viết văn trẻ, là Nguyễn Khắc Phục, Hà Phan Thiết, Đỗ Văn Đông, Bùi Thị Chiến, Hoàng Minh Nhân, Vũ Thị Hồng, Nguyễn Bá Thâm, Trần Vũ Mai, Ngô Thế Oanh, Từ Quốc Hoài, Phan Nghĩa An, Nguyễn Trí Huân, Hoàng Hởi, Nguyễn Bảo, Nay Nô...

Giữa năm 1972, Trung ương lại chi viện cho một đoàn họa sĩ đã tốt nghiệp đại học và trung cấp mỹ thuật là Lê Khắc Cường, Triệu Khắc Lễ, Đoàn Văn Nguyên, Lê Văn Thìn, Trần Trung Chính...

Trong cuộc chuyện chuẩn bị cho ngày gặp gỡ của những đồng đội từng cùng chung lưng đấu tranh suốt quãng dài ở mảnh đất này, nhà văn Nguyễn Bá Thâm luôn tự hào, chưa bao giờ quên những ký ức từng ngày chắt chiu cùng đồng đội cũ. Ông chọn định cư lại đất Quảng Đà, với cô con gái đặt tên Cẩm Hà - ghi dấu mối tình như thơ giữa mình và người bạn đời ở chiến khu Sơn Cẩm Hà...

Tôi từng may mắn theo chân nhà điêu khắc Phạm Hồng. Cả thời tuổi trẻ của đời mình, Phạm Hồng dành hết những bước chân xuân tại Khu 5 - Quảng Đà. Vượt Trường Sơn đi vào xứ Quảng từ năm 1967, người thanh niên Phạm Hồng trong lòng chỉ rực ngọn lửa khát vọng đấu tranh giành lại hòa bình cho Tổ quốc.

Trong lửa đạn khói bom, Phạm Hồng khiến người ta bớt đi phần nào nhọc nhằn, tăm tối, bằng những ký họa màu nước. Những ký họa đến bây giờ nhìn lại vẫn còn rưng rưng. Và ông nói, mình nợ mảnh đất Kỳ Sanh, Tam Phú, mình nợ những con người sẵn lòng mở cửa, sẵn lòng mỉm cười để mình họa chân dung.

Và lớp người như họ, đã khắc họa nên một diện mạo văn nghệ rất riêng của vùng đất Trung bộ. Ở tất cả lĩnh vực từ văn, thơ, họa, nhạc, dân ca, điện ảnh..., cả sáng tác và biểu diễn. Họ bày tỏ một đời sống thực ngồn ngộn ý chí ngoan cường của những người đang giành giật quyền đứng trên mảnh đất Quảng Đà này.

Mười năm, quãng từ 1965 - 1975, theo lời các nhà văn Khu 5, Quảng Nam từ chiến tranh cục bộ là chiến trường ác liệt nhất Khu 5. Chưa bao giờ, như lời của một nhà văn đáng kính, một tấc đất trở nên thiêng liêng đến thế. Trong mạch ký ức này, ông viết: “Thấu hiểu quá khứ của dân tộc cũng vô cùng như tình yêu.

Quá khứ như bóng đời đi qua, không bao giờ còn thấy lại. Nhưng nó lưu giữ. Quá khứ đặc quánh, tầng tầng lớp lớp, của cha ông và của thế hệ chúng tôi đã cô thành nỗi nhớ cồn cào. Nỗi nhớ dẫu nhỏ li ti đến chừng nào cũng lan tỏa và hằn sâu, kết tủa một vùng ký ức.

Chúng tôi yêu ký ức ấy. Chúng tôi ghi tạc vào lòng tất cả những gì đã diễn ra của dân tộc, cả biệt ly lẫn đoàn tụ, cả hùng tráng lẫn khổ đau, những rừng cọc Bạch Đằng lẫn vết dài lông ngỗng bi thương, của các xứ đất và của Liên khu Năm yêu dấu của chúng tôi bừng bừng áo xám màu tô sông núi.

Một người làm thơ, trong thế hệ chúng tôi đã viết: “Văn học, trong nghĩa toàn vẹn và cao cả là ký ức của một tập thể cộng đồng, của dân tộc”. Được vì nhân dân và cùng nhân dân, sung sướng xiết bao”.

Và họ đã chọn cách dùng ngòi bút, tài năng của mình để cống hiến, để thay lời cho cả hậu phương thức dậy chí khí người cầm súng, đối mặt với chiến trận cam go để mang về khải hoàn. Hòa bình hôm nay, không chỉ có vết dấu của những bước chân thần tốc, của súng đạn, của chiến đấu ngoan cường.

Còn có cả những câu thơ đầy hào khí, những dòng văn làm dịu tâm hồn, những bài nhạc rưng rưng niềm xúc động. Và những bức tranh ghi nhặt, thâu tóm cuộc sống một thời chiến chinh. Những tác phẩm đủ sức gợi để nhiều thế hệ sau từ đó mà hình dung ra “một thời chiến đấu cha tôi anh hùng…”.

Và đất Quảng, với những người từng gửi gắm cả trời tuổi trẻ của mình, là một vùng ký ức không quên...

BẠN VĂN

Trải qua tháng năm cùng chung trận tuyến, văn nghệ sĩ sống, chiến đấu và sáng tác trên mảnh đất Quảng Nam luôn giữ cho mình mạch liên kết, từ ý chí, tinh thần người chiến sĩ và tình nghệ sĩ. Dù người còn, người mất, nhưng sợi dây liền mạch ấy luôn được nâng niu, kéo dài đến hôm nay và hẳn sẽ mãi về sau... 

Hội Văn học-Nghệ thuật viếng hương nhà văn-liệt sĩ Chu Cẩm Phong.
Hội Văn học-Nghệ thuật viếng hương nhà văn-liệt sĩ Chu Cẩm Phong.
Viếng hương bàn thờ nhà văn Chu Cẩm Phong trong nhà ông Văn Công Mịch ở Duy Xuyên.
Viếng hương bàn thờ nhà văn Chu Cẩm Phong trong nhà ông Văn Công Mịch ở Duy Xuyên.
Văn nghệ sĩ viếng hương nhà văn Nguyễn Hồng.
Văn nghệ sĩ viếng hương nhà văn Nguyễn Hồng. 
Nhà văn - Thiếu tướng Nguyễn Chí Trung bên mộ nhà thơ Nguyễn Mỹ.
Nhà văn - Thiếu tướng Nguyễn Chí Trung bên mộ nhà thơ Nguyễn Mỹ. 

VŨ HÀ