Về một kỳ Đại hội Đặc Khu ủy Quảng Đà

LÊ NĂNG ĐÔNG 12/10/2020 06:48

Sau Hiệp định Pa-ri, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 (7.1973) xác định “phương châm của cách mạng miền Nam là đánh địch phá hoại Hiệp định Pa-ri, không những chỉ đánh trả mà còn phải phản công, tấn công cả vào căn cứ và sào huyệt của chúng”. Trước tình hình và bước chuyển mới của phong trào cách mạng, Đảng bộ Đặc Khu ủy Quảng Đà tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ X đề ra phương hướng nhiệm vụ mới.

Ban Chấp hành Đặc Khu ủy Quảng Nam trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ảnh tư liệu
Ban Chấp hành Đặc Khu ủy Quảng Nam trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ảnh tư liệu

1. Đại hội Đảng bộ Đặc Khu ủy Quảng Đà tổ chức từ ngày 4 đến 10.9.1973, tại Căn cứ A7 - vùng giáp ranh giữa Đại Lộc với Nam Giang (còn gọi là bộ phận phía sau). Xin được nói thêm, từ cuối năm 1968, bộ phận phía trước hay còn gọi bộ phận tiền phương của Đặc Khu ủy Quảng Đà đã chuyển về đứng chân ở Căn cứ Hòn Tàu; bộ phận phía sau (A7) đứng chân tại khu vực Thạnh Mỹ (Nam Giang).

Để phục vụ đại hội, lúc bấy giờ Đặc Khu ủy giao đồng chí Phạm Đức Nam - Chủ tịch UBND Cách mạng lâm thời Đặc khu chỉ đạo trực tiếp các cơ quan khối chính quyền lo xây dựng hội trường và khu nhà ở cho đại biểu về dự đại hội. Còn khu vực hậu cứ - nơi làm việc của một số cơ quan khối chính quyền trước đây được sửa lại, đồng thời làm thêm một số nhà xung quanh để sử dụng làm địa điểm họp tổ tại đại hội. Một nhiệm vụ rất quan trọng là công tác hậu cần phục vụ, nhiệm vụ này được giao cho bộ phận Quản trị của Văn phòng Đặc khu lo gùi cõng lương thực, thực phẩm.

Công tác chuẩn bị phục vụ Đại hội Đặc Khu ủy Quảng Đà diễn ra trong không khí phấn khởi trước những bước tiến nhảy vọt của cách mạng miền Nam, trước thế và lực của ta được tăng lên rất mạnh. Lúc này đồng bào, cán bộ chiến sĩ và nhân dân các dân tộc ở miền núi Đặc khu Quảng Đà  hân hoan chào đón chiến sĩ công binh Đoàn 559 đang ngày đêm khai thông đường Trường Sơn. Tuyến đường chi viện chiến lược này từng bước được khai mở từ A Sầu (huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay) đến chân đèo Bù Lạch (xã A Nông) qua Trao xuống Bến Giằng, mở ra hệ thống tuyến giao thông huyết mạch liên hoàn đến miền tây của tỉnh.

2. Trong thời gian diễn ra đại hội, một sự kiện gây ấn tượng sâu sắc là tổ chức đón tiếp đoàn xe vận tải của Binh trạm 38 chở lương thực, thuốc men, súng đạn chi viện cho Mặt trận 4 Quảng Đà. Trên con đường mới mở còn ngổn ngang đất đá, đoàn xe tiến vào khu vực tổ chức đại hội trong tiếng hò reo, vỗ tay không dứt của đại biểu, đông đảo cán bộ chiến sĩ và đồng bào các dân tộc ở huyện Nam Giang. Cuộc đón tiếp trở thành cuộc gặp gỡ quân dân hết sức cảm động... Khác với các lần trước, đại hội lần này được sử dụng lương thực và thực phẩm chi viện từ miền Bắc do Binh trạm 38 thuộc Binh đoàn 559 ủng hộ. Các đại biểu được ăn gạo, thịt hộp, cá hộp, được thưởng thức lương khô, đường sữa từ miền Bắc chuyển vào. Các đại biểu, đặc biệt là những đồng chí công tác ở vùng ven, vô cùng phấn khởi, có đồng chí cầm bánh lương khô trên tay mà hai hàng nước mắt chảy dài. Họ cảm động không chỉ vì món quà chi viện đầy nghĩa tình của hậu phương miền Bắc, mà vì đây là dấu hiệu sự lớn mạnh vượt bậc của ta, báo trước ngày thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống quân xâm lược.

Được chứng kiến không khí nhộn nhịp và khẩn trương trên công trường; thấy những đoàn xe vận tải nối đuôi nhau hối hả chở hàng chi viện cho chiến trường miền Nam, Đại hội tỏ rõ một khí thế mới, một quyết tâm và niềm tin mới. Mặc dù thực tế trên chiến trường trước mắt còn nhiều khó khăn, nhưng mỗi đại biểu đều thể hiện rõ niềm tin tuyệt đối vào những nhiệm vụ sắp đến.

3. Đại hội đánh giá tình hình địch - ta, những khó khăn, thuận lợi và những bước đi của đảng bộ qua chặng đường máu lửa suốt 19 năm chống Mỹ trên quê hương đất Quảng. Được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương và trực tiếp là Nghị quyết Khu ủy 5 (tháng 7.1973) soi sáng, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ trước mắt của đảng bộ là: Ra sức đánh bại lấn chiếm bình định của địch, giành dân, giữ dân, mở rộng quyền làm chủ, phát triển thực lực của ta. Hướng tấn công chủ yếu là nhằm vào vùng tranh chấp và vùng địch. Phương châm đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự, đấu tranh ngoại giao. Đại hội đề ra công tác xây dựng Đảng, chú trọng xây dựng các đảng bộ xã, thôn vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Công tác tư tưởng phải làm cho cán bộ, đảng viên thấy rõ tình hình với những diễn biến khó khăn, phức tạp và bản chất ngoan cố, hiếu chiến của địch nhằm phá hoại Hiệp định Pa-ri, kéo dài “Việt Nam hóa chiến tranh”. Từ đó, gây cho được chuyển biến nhảy vọt về nhận thức tư tưởng trong cán bộ, đảng viên; quán triệt quan điểm bạo lực cách mạng, phương hướng, phương châm, tình hình nhiệm vụ mới, đánh giá đúng địch - ta, phát huy cao độ tinh thần cách mạng tiến công, nêu cao lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc.

Đại hội đề ra chủ trương mở các đợt chỉnh huấn, chỉnh quân nhằm xác định đúng đắn mục tiêu lý tưởng, khắc phục biểu hiện tư tưởng hữu khuynh, cá nhân chủ nghĩa, bi quan tiêu cực, hoài nghi thắng lợi, hòa bình chủ nghĩa, giảm sút ý chí chiến đấu, ngại hy sinh. Toàn đảng bộ, toàn quân tập trung mọi nỗ lực nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn cách mạng mới.

4. Đại hội Đảng bộ Đặc Khu ủy Quảng Đà lần này thực sự là Đại hội bản lề, Đại hội đã tạo niềm tin, quyết tâm mới, đánh dấu một thời kỳ mới cho sự nghiệp giải phóng quê hương. Đại hội đã thổi luồng sinh khí mới vào phong trào cách mạng trong tỉnh, làm dấy lên phong trào thi đua giết giặc lập công trong cán bộ, đảng viên trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, binh vận.

Nhằm chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, từ cuối năm 1974, mạng lưới giao thông được củng cố và mở rộng từ tuyến đường Trường Sơn tỏa xuống các huyện đồng bằng, bảo đảm cho xe cơ giới đưa hàng từ Trường Sơn về các chiến trường. Quân dân các huyện miền núi cùng bộ đội ngày đêm bạt núi san đồi. Đường Thắng Lợi nối liền với đường Đông Trường Sơn từ Thạnh Mỹ, xuống Dốc Voi, vượt qua ngã ba Quế Sơn, cách Nông Sơn 7km về phía tây bắc rồi từ đấy băng qua Thọ Lâm xuống vùng B Đại Lộc, nhằm vào Thượng Đức, với tổng chiều dài khoảng 36km. Đường Quyết Thắng chạy từ P’rao (đoạn nối với đường Trường Sơn) xuống đến Trung Mang về Đà Nẵng - con đường lịch sử rút ngắn khoảng cách giữa hậu phương lớn miền Bắc với Quảng Đà và cả miền Nam, báo hiệu ngày toàn thắng không còn xa.

(Bài viết có sử dụng tư liệu Hồi ký “Dấu ấn thời gian” của đồng chí Phạm Thanh Ba - nguyên Chánh Văn phòng Đặc Khu ủy Quảng Đà).

LÊ NĂNG ĐÔNG