10 căn bệnh có thể gây chết người chỉ trong 1 ngày

V.THU (Theo phunuvietnam.vn) |

(QNO) - Hầu hết những bệnh mà chúng ta mắc phải trong suốt cuộc đời không gây chết người và có thể điều trị bằng các phương pháp y học. Tuy nhiên, 10 căn bệnh cực kì nguy hiểm dưới đây có thể gây chết người chỉ trong một ngày.

Nhiều căn bệnh nguy hiểm có thể gây chết người chỉ trong 1 ngày. Ảnh minh họa
Nhiều căn bệnh nguy hiểm có thể gây chết người chỉ trong 1 ngày. Ảnh minh họa

1. Bệnh dịch hạch

Dịch hạch là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất lịch sử. Vào thế kỷ 14, căn bệnh này đã cướp đi tính mạng của hơn 50 triệu người.

Trên thực tế, dịch hạch vẫn tồn tại ở nhiều quốc gia châu Á, châu Phi và Nam Mỹ. Bệnh gây ra do vết cắn từ bọ chét kí sinh ở động vật mang thực khuẩn Yersinia pestis chẳng hạn như chuột. Triệu chứng phổ biến của bệnh dịch hạch bao gồm sốt, nôn mửa, mê sảng và sưng hạch bạch huyết. Thời gian ủ bệnh có ngắn nhất có thể ở mức 24 tiếng. Ngoài ra, tỉ lệ tử vong của bệnh ở mức 30% - 60% các trường hợp.

2. Bệnh do virus Ebola

Virus Ebola đã gây ra hàng ngàn cái chết thương tâm cho người dân châu Phi. Bệnh lây truyền qua đường máu, dịch tiết và các dịch khác từ cơ thể của động vật nhiễm bệnh (tinh tinh, khỉ đột, linh dương, ...). Tuy nhiên, một người nhiễm bệnh do virus Ebola có thể lây sang nhiều người khác do tiếp xúc trực tiếp.

Sau thời gian ủ bệnh tối đa ở mức 21 ngày, các triệu chứng thường gặp của bệnh do virus Ebola bao gồm: sốt, đau cơ, đau họng, đau đầu hoặc các triệu chứng nghiêm trọng hơn bao gồm nôn mửa, phát ban và xuất huyết cả trong lẫn ngoài.

Trong nhiều trường hợp, người bệnh có thể tử vong trong vòng 24 tiếng kể từ khi xuất hiện các triệu chứng ban đầu. Tỉ lệ tử vong của bệnh do virus Ebola ở mức từ 25% đến 90%.

3. Bệnh tả

Bệnh tả là một bệnh nhiễm trùng đường ruột do uống nước hoặc ăn thức ăn bị nhiễm vi khuẩn Vibrio cholerae. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có 21.000 - 143.000 người chết vì căn bệnh này.

Sau thời gian ủ bệnh từ 12 giờ - 5 ngày, bệnh gây tiêu chảy nặng. Nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh sẽ bị mất nước nghiêm trọng dẫn đến tử vong. Điều quan trọng trong cuộc chiến chống lại dịch tả là điều trị kịp thời sau khi xuất hiện các triệu chứng ban đầu. Nếu được điều trị thích hợp, tỉ lệ tử vong có thể dưới mức 1%.

Tuy nhiên, nếu không được chữa trị kịp thời, cứ 2 người mắc bệnh sẽ có 1 người tử vong vì dịch tả.

Viêm màng não có những dấu hiệu như bệnh cúm. Ảnh minh họa
Viêm màng não có những dấu hiệu như bệnh cúm. Ảnh minh họa

4. Viêm màng não

Viêm màng não là tình trạng nhiễm trùng màng não do virus hoặc vi khuẩn gây ra. Bệnh thường xảy ra ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, tuy nhiên người lớn cũng có thể mắc phải. Bệnh thường lây nhiễm do tiếp xúc với nước bọt của người nhiễm bệnh.

Triệu chứng của bệnh viêm màng não tương tự như bệnh cúm, bao gồm nhức đầu, sốt, cứng cổ và nhạy cảm với ánh sáng. Tuy nhiên, viêm màng não lại nguy hiểm hơn bệnh cúm rất nhiều. Cứ 2 người mắc bệnh sẽ có 1 người tử vong. Ngoài ra, 10% - 15% những người sống sót sau khi bị viêm màng não sẽ bị tổn thương thần kinh nghiêm trọng trong suốt phần đời còn lại.

5. Viêm mô hoại tử (bệnh ăn thịt)

Viêm mô hoại tử (NF) thường được gọi là bệnh ăn thịt, là một nhiễm trùng dẫn đến tử vong mô mềm của cơ thể. Đó là một căn bệnh nghiêm trọng khởi phát đột ngột lan nhanh. Các triệu chứng bao gồm da đỏ hoặc tím ở vùng bị ảnh hưởng, đau dữ dội, sốt và nôn. Các khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là chân tay.

Trong nhiều trường hợp, các bác sĩ phải phải phẫu thuật cắt bỏ phần cơ thể bị hoại tử. Ngoài ra, khoảng 30% - 40% người mắc bệnh sẽ tử vong vì viêm mô hoại tử.

6. Viêm gan tối cấp

Viêm gan tối cấp có thể gây ra do virus herpes hoặc zona. Tuy nhiên, bệnh thường gây ra do viêm gan A hoặc viêm gan B. Vì vậy, kiểm tra sức khỏe thường xuyên rất quan trọng trong phát hiện và điều trị kịp thời viêm gan tối cấp.

Viêm gan tối cấp xảy ra khi gan bị tấn công bởi một hay nhiều tác nhân khác nhau làm các tế bào gan chết một cách ồ ạt và nhanh chóng. Thực tế khoảng 80% bệnh nhân bị viêm gan tối cấp sẽ tử vong sau khi nhập viện và chỉ khoảng 20% bệnh nhân được cứu sống.

7. Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA)

Bệnh gây ra do vi khuẩn Methicillin-resistant Staphylococcus aureus. Đây là loại vi khuẩn duy nhất có khả năng kháng thuốc kháng sinh. Bệnh lây nhiễm khi tiếp xúc trực tiếp với người mang vi khuẩn.

MRSA biểu hiện dưới dạng những nốt mụn đỏ sưng và chứa mủ, khi chạm vào thấy ấm và đau trên da. Tuy nhiên, vi khuẩn có thể lây sang các bộ phận khác của cơ thể chẳng hạn như phổi hoặc đường tiết niệu. Bệnh gấy sốt, ớn lạnh, lú lẫn và đau cơ. Có đến 10% - 30% trường hợp bệnh nhân tử vong không lâu sau khi xuất hiện các triệu chứng.

8. Bệnh do virus Enterovirus D68

Enterovirus D68 là một loại virus tấn công đường hô hấp của người bệnh. Virus lây truyền qua nước bọt và khi ho. Trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên, đặc biệt là những người bị hen suyễn có nguy cơ mắc bệnh cao nhất.

Các triệu chứng của bệnh thường giống như bệnh cúm, bao gồm sốt, chảy nước mũi, ho, hắt hơi và đau cơ. Nếu không được điều trị, Enterovirus D68 có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng về hô hấp, nhanh chóng dẫn đến tử vong. Theo một nghiên cứu , khoảng 1/10 người nhiễm virus sẽ tử vong.

9. Viêm tụy cấp tính

Viêm tụy cấp là tình trạng tuyến tụy bị viêm. Trong một số trường hợp, tình trạng viêm tiến triển thành hoại tử có thể gây tử vong.

Các triệu chứng đầu tiên của bệnh là các vấn đề về tiêu hóa và đau bụng dữ dội lan ra sau lưng. Các triệu chứng này thường xuất hiện sau bữa ăn. Một số người có thể bị buồn nôn và nôn, kèm theo sốt, đổ mồ hôi và khó thở. Viêm tụy cấp có tỉ lệ tử vong từ 5% đến 30%.

Bệnh Chagas ở trẻ. Ảnh minh họa
Bệnh Chagas ở trẻ. Ảnh minh họa

10. Bệnh Chagas

Bệnh Chagas do ký sinh trùng Trypanosoma cruzi gây ra. Theo WHO, có khoảng 6 đến 7 triệu người (chủ yếu ở Nam Mỹ) bị nhiễm bệnh .

Bệnh Chagas có hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu tiên, kéo dài khoảng hai tháng, bệnh nhân sẽ không nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào.

Sau khi xâm nhập vào máu của bệnh nhân, ký sinh trùng sẽ lây lan đến tim và các cơ quan tiêu hóa. Sau đó, bệnh nhân sẽ bị các vấn đề về tim hoặc tiêu hóa, chẳng hạn như suy tim hoặc rối loạn nhịp tim. Đây là giai đoạn thứ hai.

Nếu không được điều trị, bệnh có thể gây đột tử. May mắn thay, việc điều trị có hiệu quả gần như 100% nếu được tiến hành kịp thời. Vì vậy, tỉ lệ tử vong của bệnh tương đối thấp, ở mức dưới 5%.