Ngày 14.12 là hạn chót rà soát hộ nghèo, cận nghèo năm 2021

D.LỆ |

(QNO) - Theo kế hoạch rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2021 của UBND tỉnh, các địa phương tiến hành rà soát từ nay đến ngày 14.12.

Tập huấn rà soát hộ nghèo, cận nghèo tại xã Trà Giác vào cuối năm 2020. Ảnh: D.L
Tập huấn rà soát hộ nghèo, cận nghèo tại xã Trà Giác (Bắc Trà My) vào cuối năm 2020. Ảnh: D.L

Việc rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2021 được thực hiện theo 2 mức chuẩn khác nhau. Thứ nhất là rà soát theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 để đánh giá kết quả giảm nghèo bền vững năm 2021.

Thứ hai là tổng rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 quy định để xác định thực trạng nghèo cuối năm 2021 (số lượng, tỷ lệ % và danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo). Từ đó phục vụ xây dựng, triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch, giải pháp giảm nghèo bền vững; tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và các chính sách kinh tế - xã hội khác năm 2022 và giai đoạn 2022 - 2025 trên địa bàn tỉnh.

Việc rà soát phải đảm bảo công khai, dân chủ, chính xác, trung thực, khách quan; từng tiêu chí phải được rà soát, đánh giá chính xác, đầy đủ để xác định được hộ nghèo, hộ cận nghèo; có sự tham gia của người dân và giám sát của Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng các tổ chức thành viên.

Đối với chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025, hộ nghèo được quy định cụ thể: khu vực nông thôn mức thu nhập bình quân 1,5 triệu đồng/người/tháng trở xuống và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên; khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân đầu người từ 2 triệu đồng/người/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Chuẩn hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân từ 1,5 triệu đồng/người/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản; khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân từ 2 triệu đồng/người/tháng trở xuống và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

Các dịch vụ xã hội cơ bản (6 dịch vụ) gồm việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin.

Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm việc làm, người phụ thuộc trong hộ gia đình, dinh dưỡng, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông, phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin.

TAGS