Người Nghệ An với đất Quảng

CHÂU YẾN LOAN |

Hơn 600 năm trước, từ khi xứ Quảng còn là vùng đất của Chiêm Thành, người Nghệ An đã có mặt trong những đoàn quân đi mở cõi.

Nguyễn Thuật - một trong những người gốc Nghệ có đóng góp lớn cho đất Quảng. Ảnh: Internet
Nguyễn Thuật - một trong những người gốc Nghệ có đóng góp lớn cho đất Quảng. Ảnh: Internet

Sau chiến thắng nhiều người ở lại khai phá, xây dựng vùng đất mới, trở thành những vị tiền hiền. Tiếp bước là những Nho sĩ, võ sư người Nghệ An đã đem hết tài đức của mình truyền bá cái học thánh hiền, đào luyện cho người dân nghèo khổ nơi đây trở thành nhân tài cho đất nước, nhiều văn nhân thi sĩ đã làm rạng rỡ cho đất Quảng.

Bình Chiêm mở cõi

Trong công cuộc bình Chiêm, từ thời nhà Hồ, nhà Lê, Nghệ An đã cống hiến những đoàn quân gan dạ, dũng cảm, những vị tướng tài ba. Thời nhà Hồ, sau khi lên ngôi, năm 1402 Hồ Hán Thương đem đại quân - chủ yếu tuyển người ở Nghệ  An và Thanh Hóa đi đánh Chiêm Thành. Hồ Hán Thương đánh chiếm Chiêm Động và Cổ Lũy mở rộng biên cương đến Quảng Ngãi. Năm 1403 nhà Hồ đã mở những đợt di dân rầm rộ, cho dân không có ruộng ở Nghệ An, Thuận Hóa đem vợ con vào ở để khai khẩn. Nhưng chủ trương di dân của nhà Hồ không được lâu dài, chỉ 4 - 5 năm sau, quân Minh đánh nước ta, Chiêm Thành nhân cơ hội đó cấu kết với quân Minh lấy lại đất ấy và phần lớn di dân người Việt vào đây đã phải lui về Thuận Hóa.

Năm Tân Mão (1471) vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành. Lê Tấn Trung (nguyên quán xã Lỗ Hiền, phủ Thiệu Thiên, đạo Thừa tuyên Nghệ An) được phong chức đại tướng phụ trách hải thuyền. Công cuộc bình Chiêm thắng lợi, ông được phong tước “Bình Chiêm Triệu quốc công”, trấn thủ châu Lễ Dương (nay là các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ), ông cũng là vị tiền hiền của châu này.

Tháng 6 năm 1471, vua Lê Thánh Tông lấy ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn lập thành đạo thứ mười ba là Quảng Nam Thừa tuyên đạo, sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, đặt chức Án sát ở 12 thừa tuyên và đặt 3 ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) ở Quảng Nam. Danh xưng Quảng Nam ra đời từ đó.

Trong cuộc di dân dưới thời Lê Thánh Tông, từ đất Hoan Châu (Nghệ An), Bùi Tấn Diên theo đoàn quân Nam tiến của vua Lê Thánh Tông giữ nhiệm vụ vừa đồn thủ vừa khai phá những vùng đất mới thu phục được. Bùi Tấn Diên và con trai là Bùi Tấn Trường đã ở lại bờ Nam của sông Thu Bồn cùng với đoàn di dân khai khẩn đất đai lập nên 6 thôn: Lệ Trạch, Vĩnh Trinh, Thanh Châu, Cổ Tháp, Cù Bàn, An Lâm. Bùi Tấn Diên trở thành vị tổ đầu tiên của đại tộc họ Bùi ở Duy Xuyên.

Phát triển giáo dục

Sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long rất chú trọng việc giáo dục, đào tạo nhân tài để giúp nước. Năm Gia Long thứ nhất - 1802, trường tỉnh Quảng Nam được thành lập. Sách Đại Nam nhất thống chí (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, tr. 19), tỉnh Quảng Nam, quyển thứ 5, phần Học Hiệu ghi rằng: “Trường học tỉnh dựng ở xã Thanh Chiêm, huyện Diên Phước phía nam tỉnh thành. Đầu niên hiệu Gia Long dựng tại xã Câu Nhí, niên hiệu Minh Mạng 16 (1835) dời qua xã Thanh Chiêm”. Vì vậy nên thường gọi là trường Đốc Thanh Chiêm.

Các Nho sĩ Nghệ An đã đóng góp rất nhiều tài năng, công sức trong sự nghiệp giáo dục xứ Quảng nên được người dân quý mến gọi bằng cái tên rất tôn kính là “ông đồ Nghệ”. Trường Đốc Thanh Chiêm có những vị Đốc học ở Nghệ An được bổ dụng và họ đều dốc hết tài đức, đóng góp rất lớn trong sự phát triển giáo dục ở Quảng Nam, như Đinh Phiên, Nguyễn Viết Tiêm, Nguyễn Tạo, Trần Đình Phong, Đinh Văn Chấp. Chính vì thế mà trường Đốc Thanh Chiêm thời Nguyễn lừng danh là lò luyện nhân tài cho đất nước. Nhiều bậc đại khoa, chí sĩ cách mạng đã được đào luyện dưới mái trường này. Qua 48 khoa thi Hương dưới triều Nguyễn, Quảng Nam có 254 cử nhân. Và qua 39 khoa thi Hội, Quảng Nam có 39 người đỗ gồm 15 tiến sĩ và 24 phó bảng.

Nghệ thuật

Quảng Nam có những nhà thơ, nhà văn gốc gác Nghệ An, rất được quần chúng yêu mến, tự hào. Đó là Nguyễn Thuật (1842 - 1911) tự là Hiếu Sinh, hiệu là Hà Đình, sinh tại làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa (nay là Hà Lam, huyện Thăng Bình). Thủy tổ là cụ Nguyễn Công Châu, nguyên quán xã Bình Luật, phủ Thạch Hà, trấn Nghệ An. Khoảng thời Lê Thánh Tông (1471) vào khai khẩn rồi định cư tại xã Hà Lam. Nguyễn Thuật thi đỗ Cử nhân, rồi Phó bảng, làm quan qua các triều từ Tự Đức đến Duy Tân. Nguyễn Thuật đã để lại cho đời tác phẩm thơ văn rất đồ sộ với hơn 800 bài gồm đủ thể loại văn, thơ, từ, phú, hát nói, câu đối… Ngoài ra, ông còn để lại nhiều tác phẩm thư pháp, bi ký. Thơ của Nguyễn Thuật giàu thi ảnh, mang tính nhân văn sâu sắc. Thơ văn của ông hàm chứa một nhân sinh quan tích cực, một thế giới quan lành mạnh, trong sáng.

Tú Quỳ (1828 - 1926) là nhà thơ hiện thực trào phúng xuất sắc của Quảng Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Tú Quỳ tên thật là Huỳnh Quỳ, hiệu Hướng Dương, sinh tại làng Giảng Hòa, tổng Quảng Hòa, huyện Duy Xuyên (nay thuộc xã Đại Thắng, huyện Đại Lộc). Ông tổ của Tú Quỳ là Huỳnh Đại Lang tức Huỳnh Văn Nê người huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An theo vua Lê Thánh Tông bình Chiêm, sau đó đã chọn Giảng Hòa để khai phá, định cư xây làng, lập xã. Năm 19 tuổi Tú Quỳ thi đỗ Tú tài, sau đó thi tiếp nhưng cũng chỉ đỗ Tú tài dù lần nào ông cũng đỗ đầu. Ông về quê vui với việc dạy trẻ và dùng tài văn  chương thể hiện lòng yêu dân yêu nước, đả kích những thói hư tật xấu của xã hội và con người, phản ánh nhân sinh quan cá biệt của Tú Quỳ khác hẳn bất cứ Nho sĩ nào đồng thời.

Võ nghệ

Võ phái Hồ Công làng Châu Bí (xã Điện Tiến, thị xã Điện Bàn) do tướng quân Hồ Công Sùng khai sáng. Ông xuất thân từ làng Quỳnh Đôi, Nghệ An, làm quan dưới triều nhà Mạc đến chức Đô chỉ huy sứ. Đầu thế kỷ 17, ông từ quan, dẫn ba người con trai - đều là tướng quân vào miền đất Châu Bí khai hoang lập làng. Thuở ấy, đất này là rừng thiêng, nước độc, nhiều thú dữ, nên ông phải tìm cách tự vệ, và việc đánh rắn, đuổi cọp trên núi Cấm đã được ông đúc kết kinh nghiệm, sáng chế ra những thế võ độc đáo, có tên là võ Long Xà. Võ phái Hồ Công ở Châu Bí đã sản sinh ra nhiều võ sĩ tài ba, danh tiếng lừng lẫy, “bất khả chiến bại” như: Võ sư Hồ Hương, Hồ Điệp, Hồ Cưu, Hồ Cập làm rạng rỡ cho nền võ học quê nhà.

Từ xa xưa, người dân Nghệ An đã nặng tình với mảnh đất Quảng Nam, nhiều gia đình đã rời bỏ quê hương di dân vào đây khai cơ lập nghiệp trở thành những vị tiền hiền của nhiều làng xã, nhiều “ông đồ xứ Nghệ” đã đem đạo học thánh hiền vào quảng bá cho người dân vùng đất mới, trong đó có những vị Đốc học tài ba, những nhà thơ tên tuổi, những võ sư lập làng, sáng tạo ra môn võ Long Xà độc đáo làm nên niềm tự hào cho đất Quảng.