Đi tìm những đồi cỏ tranh

TẤN VỊNH |

Địa bàn miền núi, cỏ tranh mọc ở những cánh rừng nghèo, rừng thưa, rẫy cũ bỏ hoang. Cỏ tranh cùng với gỗ, tre nứa, song mây là vật liệu để đồng bào miền núi xây dựng nhà cửa.

Những bó tranh vàng óng chuẩn bị lợp lại mái nhà sắp hư mục của đồng bào M’nông. Ảnh: TẤN VỊNH
Những bó tranh vàng óng chuẩn bị lợp lại mái nhà sắp hư mục của đồng bào M’nông. Ảnh: TẤN VỊNH

Ngày nay, chủ trương xây dựng nhà kiên cố bằng vật liệu mới, hơn nữa, do mất rừng, thiếu hụt nguồn vật liệu truyền thống nên nhà tranh vách nứa ngày càng thưa vắng. Một trong những biểu hiện sự phai nhạt dấu ấn văn hóa tộc người có thể thấy rõ ở mái nhà, nơi lưu giữ di sản kiến trúc, nếp sống, tri thức bản địa về ăn ở, sinh tồn của từng tộc người.

1. Theo tập quán cũ, khi nương rẫy đã qua nhiều năm canh tác, đất bạc màu, không thể trồng lúa, hoa màu được nữa, đồng bào sẽ bỏ hoang. Lúc đó cỏ tranh, lau lách và cây dại thế chỗ. Vì đất khô cằn cho nên chỉ có cây cỏ tranh mới chiếm ưu thế sinh trưởng, lâu dần trở thành đồi cỏ tranh tự nhiên. Vào đầu mùa khô, khi thu hoạch xong lúa rẫy, lúc nông nhàn, đồng bào bắt đầu lo tu bổ, sửa sang nhà cửa hoặc dựng nhà mới.

Họ vào rừng đốn gỗ, chặt tre nứa, cắt tranh, chuẩn bị sẵn mọi thứ vật liệu để làm nhà. Những nếp nhà cũ, mái tranh hư mục sẽ được thay thế. Lúc đó, ở những cánh rừng xa, từng vạt tranh đã nhuộm vàng. Đồng bào vào rừng chọn lựa những vạt tranh già, lá dài, cứng cáp để cắt, lấy lạt tre bó thành từng bó lớn rồi gùi về kết tấm lợp nhà. Những bó tranh vòng óng thơm mùi cỏ mới được xếp ở sân, hiên nhà chờ ngày kết thành từng tấm lợp.

Thời điểm này, người dân cũng được huy động công sức tìm nguyên vật liệu để tu sửa, xây dựng nhà làng truyền thống như nhà rông, nhà gươl, nhà ưng... Mỗi nhà tùy theo lực lượng lao động mà có thể đóng góp bao nhiều bó tranh, bó nứa, đóng góp bao nhiều ngày công để dựng lên ngôi nhà chung của làng.

Những vạt tranh xấu còi còn sót lại thì được đốt thành tro cho đất màu mỡ hơn. Trước đây, khi muối còn khan hiếm, bà con miền núi thường đốt cỏ tranh lấy tro ăn thay muối. Chuyện này được nhà văn Nguyên Ngọc nhắc đến trong tiểu thuyết Đất nước đứng lên, anh hùng Núp (Đinh Núp) đốt cỏ tranh để lấy muối tro. Đến mùa mưa, cỏ tranh lên xanh tốt, lại cho mùa thu hoạch mới.

Trong các loại lá mà đồng bào thường dùng để lợp nhà như lá cọ, lá mây, lá bộp... thì lá tranh là tốt nhất. Cỏ tranh dài, cứng, bền, dễ kết thành từng tấm và dễ lợp. Nhà truyền thống như nhà rông, gươl cũng lợp mái rất dày, mỗi nhà tốn hàng trăm bó tranh. Đó là những “phẩm chất vượt trội” của cỏ tranh, chẳng những người miền núi ưa dùng mà ngay cả người miền xuôi trước đây cũng lên tận trên nguồn để mua về làm nhà.

2. Do thay đổi tập quán cư trú, hơn nữa, các buôn làng thực hiện chính sách xóa nhà tạm, nhà mái lá truyền thống của đồng bào trước đây bị thay thế bằng mái tôn. Các công trình nhà rông, gươl... cũng đua nhau làm bằng vật liệu mới, nhất là đồng bào sống ở những vùng thấp, tìm kiếm vật liệu truyền thống khó khăn.

Tuy nhiên, nhà gươl không có mái tranh ai cũng cảm thấy mất nét, mất hồn và xa lạ. Để khắc phục sự hụt hẫng này, một số làng vùng cao huyện Tây Giang, bên cạnh nhà kiên cố, bà con vẫn còn giữ những ngôi nhà truyền thống. Nhà mái tranh chẳng những giữ nét kiến trúc truyền thống mà còn phù hợp với thời tiết, khí hậu: ấm vào mùa đông, mát mẻ vào mùa hè, phù hợp với tập quán sinh hoạt lâu đời của bà con.  

Hiện nay, nhu cầu vật liệu làm nhà truyền thống rất lớn, trong đó nguồn cỏ tranh không đủ đáp ứng. Lá tranh cũng được sử dụng phổ biến ở các khu du lịch để tôn tạo các công trình kiến trúc dân gian thân thiện với môi trường, gần gũi với thiên nhiên. Vật liệu truyền thống đơn giản nhưng tạo nên hiệu quả thẩm mỹ cao, gây ấn tượng về kiến trúc, cảnh quan.

Cỏ tranh phù hợp với lối thiết kế theo phong cách khác nhau, từ truyền thống đến hiện đại. Từ những ngôi nhà ở, nhà làng truyền thống của các dân tộc, chòi rẫy, kho lúa đến các lán trại ở các công trường, quán ăn, quán cà phê, đến các bungalow, nhà hàng lớn... đều cần nguồn cỏ tranh để xây dựng và tôn tạo các công trình. Theo nếp nghĩ xưa, những người nghèo khổ ở nhà tranh (nhà tranh vách đất), ngày nay, những người giàu có thích được “trở lại mái nhà xưa”.

Hiện nay có một số địa phương, đơn vị sớm nắm bắt nhu cầu thị trường vật liệu xây dựng truyền thống, đã tổ chức thu mua và sản xuất tấm lợp bằng cỏ tranh, tuy nhiên ở quy mô nhỏ, tự phát, chưa đáp ứng nhu cầu. Nguồn nguyên liệu cỏ tranh đang cạn kiệt dần. Nếu trước đây, những nương rẫy cũ bị bỏ hoang, cỏ tranh có đất sống thì ngày nay, nơi ấy thành trang trại, trồng cây keo, tràm, cao su, cà phê...

Do đó, cần khuyến khích bà con phục hồi các cánh rừng chuyên canh cỏ tranh. Các doanh nghiệp tư nhân cần phối hợp với bà con miền núi trồng cỏ tranh ở các rừng nghèo... Chính quyền cần hỗ trợ dân vốn để phục hồi sản xuất tấm lợp cỏ tranh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Đây là công việc có thể mang lại nguồn thu nhập ổn định cho bà con, góp phần bảo tồn di sản kiến trúc đang có nguy cơ mai một.