"Thủ đô kháng chiến" ở xứ Quảng

LÊ NĂNG ĐÔNG |

Tháng 7.1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, tuy nhiên kẻ thù lập tức xé bỏ. Ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách tố cộng, diệt cộng rất tàn bạo.

Các đồng chí nguyên lãnh đạo Đặc khu ủy Quảng Đà thăm Mẹ VNAH Phạm Thị Cộng - nơi che chở những hạt giống cách mạng.
Các đồng chí nguyên lãnh đạo Đặc khu ủy Quảng Đà thăm Mẹ VNAH Phạm Thị Cộng - nơi che chở những hạt giống cách mạng.

Tại Quảng Nam, hàng vạn đảng viên và quần chúng yêu nước bị giam cầm, giết hại sau năm 1954. Cơ quan Tỉnh ủy phải rút vào hoạt động bí mật, liên tục di chuyển từ Tam Kỳ ra Thăng Bình, Quế Sơn, Hội An, Điện Bàn.

Trong bầu không khí khủng bố ngột ngạt, các cơ sở trung kiên vẫn bất chấp hiểm nguy, đùm bọc che chở những hạt giống của cách mạng. Tiêu biểu như mẹ Phạm Thị Cộng với ngọn đèn không tắt đã trở thành chỗ dựa tin cậy của cán bộ Tỉnh ủy. Cũng nhờ vậy đường dây liên lạc của Tỉnh ủy với các huyện và Liên khu ủy 5 vẫn giữ vững.

Giữ thế “an toàn” miền núi

Từ giữa năm 1956, sau khi đặt được bộ máy chính quyền ở một số thôn vùng thấp,  địch tiến lên vùng trung và vùng cao, đóng thêm các đồn Bốtxít (Bến Giằng), Caxăh, Alâu, Atép (Bến Hiên) và nhiều đồn dã chiến ở Trà My, Phước Sơn.

Địch mở nhiều cuộc hành quân vào các vùng, bắt dân làng Padương (Bến Yên) dời xuống Thạnh Mỹ, dồn dân ở Phú Túc (Trung Mang) ra bìa rừng, cưỡng bức nhân dân các xã Pui, Nú (Trà My) sống tập trung. Để giữ thế “an toàn” miền núi, các cấp ủy đảng đã tổ chức đội tự vệ ở thôn bản.

Lực lượng này được trang bị vũ khí thô sơ như cung, nỏ, giáo, mác; tổ chức đi tuần tra, cắm chông gài bẫy ở các nơi địch thường qua lại, ngăn chặn và hạn chế sự hoạt động của chúng vào các thôn bản, bảo vệ nơi ăn ở của cán bộ. Đi đôi với phong trào trên, các dân tộc vùng tây đã nổi dậy chống âm mưu dồn dân của địch. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh phá khu dồn Thạnh Mỹ của đồng bào Padương (Bến Giằng).

Trong dịp thực hiện đề tài về Căn cứ và nơi đứng chân của Tỉnh ủy Quảng Nam giai đoạn 1930 - 1975 (gồm căn cứ của Tỉnh ủy Quảng Nam, căn cứ Đặc Khu ủy Quảng Đà), tôi nhiều lần gặp ông Phạm Thanh Ba - nguyên Chánh Văn phòng Đặc Khu ủy Quảng Đà, ông không quên nhắc đến lòng dân với một niềm tin tuyệt đối về Đảng, về cách mạng dù khó khăn, hiểm nguy nhưng nhân dân vẫn một lòng che chở cán bộ. Ông Ba nói: “Nhân dân chính là tai mắt của cách mạng. Nhờ có nhân dân, căn cứ Hòn Tàu mới vững. Lâu nay, chúng ta chỉ nói đến giá trị lịch sử của một núi Hòn Tàu sừng sững thôi thì chưa đủ, mà phải nói rộng ra, nhấn mạnh thêm vai trò, vị trí của lòng dân. Bởi nếu không có nhân dân thì không có căn cứ Hòn Tàu. Tất cả gạo thóc, lương thực, thực phẩm nuôi cán bộ lúc bấy giờ đều nhờ vào dân tiếp tế. Khi nhắc đến căn cứ Hòn Tàu phải nói đến lòng dân. Căn cứ Hòn Tàu là căn cứ lòng dân”.

Các cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc thiểu số đã làm thất bại âm mưu đánh phá của địch, giữ vững thế làm chủ núi rừng và phát triển phong trào cách mạng miền núi.

Trong báo cáo Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tháng 1.1960, có ghi: “Phong trào miền núi thực tế mới xây dựng trong mấy năm gần đây, nhưng đã có nhiều chuyển biến lớn và ngày nay đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào chung toàn tỉnh, có tác dụng hết sức quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của cách mạng hết sức to lớn hiện nay”.

Đó là cơ sở, niềm tin vững chắc để Tỉnh ủy Quảng Nam, Quảng Đà lựa chọn đứng chân ở miền núi. Đặc biệt, đầu năm 1958, cơ quan Tỉnh ủy chuyển từ Trung Mang (khu vực giáp ranh giữa Đông Giang - Hòa Vang) lên đứng chân tại thôn Paghì, xã Tà Pơơ, huyện Giằng, nay thuộc thôn 2, xã Tà Pơơ, huyện Nam Giang. Đây là địa bàn trung tâm, thuận lợi cho việc lãnh đạo phong trào cách mạng trên địa bàn toàn tỉnh, nhất là các huyện cánh Nam.

Tại đây, Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng đã tổ chức nhiều hội nghị quan trọng; nhất là từ cuối năm 1958, trong khi chờ chủ trương mới của Đảng, Liên khu ủy 5 đã truyền đạt những nội dung cơ bản của bản dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam do đồng chí Lê Duẩn soạn thảo và gợi ý cho Tỉnh ủy tiến hành một số công tác nhằm chuẩn bị xây dựng căn cứ miền núi, xây dựng lực lượng vũ trang để hoạt động. Trên tinh thần bản dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn, Tỉnh ủy xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng trước mắt là phải giữ vững miền núi, xây dựng miền núi thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, phải tổ chức lực lượng tự vệ để bảo vệ căn cứ, đi đôi với việc xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng kinh tế.

Đại hội đầu tiên thời chống Mỹ

Sau khi tiếp nhận được Nghị quyết 15 của Trung ương, đầu tháng 6.1959, tại Paghì, Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng triệu tập Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng để truyền đạt Nghị quyết Trung ương 15. Nhằm đưa cuộc kháng chiến phát triển lên một bước theo tinh thần Nghị quyết 15, Tỉnh ủy quyết định chuyển cơ quan từ Bến Hiên lên xây dựng cơ sở đứng chân tại bờ sông A Vương, thôn Adhur, xã Arooi (nay thuộc huyện Đông Giang) và chuẩn bị tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV. Đây là đại hội đầu tiên của Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Những ngày diễn ra Đại hội Đảng bộ tỉnh, Adhur sôi động hẳn lên. Đây là lần đầu tiên sau Hiệp định Giơnevơ, Bến Hiên được tiếp đón cùng một lúc nhiều đồng chí lãnh đạo đại diện Liên khu ủy 5, Tỉnh ủy, cán bộ chủ chốt của các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đại hội và các đại biểu về tham dự; các điều kiện cần thiết phục vụ đại hội, công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương và rất chu đáo.

Theo lời kể của già làng Hôih Zơơn - nguyên du kích xã Arooi, người trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài của đại hội: “Khu vực Đại hội có 8 ngôi nhà được làm bằng tranh tre nứa, có nhà ăn, nhà chăn nuôi… Các ngôi nhà làm dưới tán cây, được ngụy trang cẩn thận nhằm tránh máy bay địch phát hiện. Vòng ngoài khu vực đại hội được cảnh giới và bảo vệ nghiêm ngặt, do 8 du kích xã phụ trách, được trang bị 1 súng trường và 2 súng cạc bin. Công tác sản xuất được đẩy mạnh nhằm đảm bảo lương thực cho các đại biểu về tham dự đại hội; bên cạnh đó, bộ phận phục vụ đã vận động đồng bào trong xã và các khu vực lân cận đóng góp lương thực như gạo, khoai, sắn, bắp… và các loại thực phẩm như dê, heo, gà… phục vụ cho đại hội”.

Miền núi - “Thủ đô kháng chiến”

Cuối năm 1962, Quảng Nam - Đà Nẵng được chia tách thành hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà. Lúc bấy giờ cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam, Quảng Đà tiếp tục lựa chọn đứng chân tại các huyện miền núi. Theo đó, cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam lần lượt đứng chân tại Nà Cau, Tiên Phước (cuối năm 1962), rồi chuyển đến khu vực Sơn - Cẩm - Hà huyện Tiên Phước (cuối năm 1963); sau Xuân Mậu Thân 1968 chuyển về nóc Ông Đề (Trà My); rồi thôn Phước Lộc xã Phước Hà huyện Tiên Phước (từ 1969 - 1972).

Trong khi đó, cơ quan Tỉnh ủy Quảng Đà lần lượt đứng chân tại Làng Đào, nay thuộc xã Sông Kôn, huyện Đông Giang (năm 1963); từ 1964 đến 1968 lần lượt đứng ở khu vực đồng bằng Điện Bàn, Đại Lộc. Từ cuối năm 1968 bộ phận tiền phương của Thường vụ Đặc khu ủy và Văn phòng Đặc khu ủy về đóng ở núi Nhà Muỗi, thuộc dãy núi Hòn Tàu. Còn bộ phận phía sau (gọi là A7) đứng tại khu vực ranh giới giữa huyện Đại Lộc và huyện Nam Giang.

Để chỉ đạo sát phong trào hơn, vào tháng 12.1971, Hội nghị Đặc Khu ủy Quảng Đà đã quyết định chuyển toàn bộ cơ quan của Đặc khu từ A7 về căn cứ Hòn Tàu, mỗi cơ quan chỉ để lại bộ phận sản xuất tự túc. Bộ phận phía sau và bộ phận tiền phương của cơ quan Đặc khu ủy sáp nhập thành một. Tỉnh ủy Quảng Nam, sau Hiệp định Paris, chuyển về xây dựng căn cứ đầu não lãnh đạo kháng chiến tại Tiên Sơn (từ 1973 - 1975); còn căn cứ Đặc Khu ủy Quảng Đà nằm ở Hòn Tàu (từ 1968 - 1975).

Như vậy, một lần nữa Tỉnh ủy Quảng Nam, Đặc Khu ủy Quảng Đà lựa chọn miền núi để xây dựng căn cứ lãnh đạo cuộc kháng chiến. Tại căn cứ Tiên Sơn và Hòn Tàu, Tỉnh ủy Quảng Nam và Đặc Khu ủy Quảng Đà đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình, đó là lãnh đạo quân và dân giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Nam ngày 24.3.1975 và TP.Đà Nẵng ngày 29.3.1975 góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước trong mùa Xuân năm 1975. Có thể thấy rằng, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, miền núi Quảng Nam, Quảng Đà đã được lựa chọn làm “thủ đô kháng chiến”.