Chi trả dịch vụ môi trường rừng:

Kịp thời và đúng quy định

TRẦN HỮU |

(QNO) - Ngoài thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo kế hoạch, từ đầu năm đến nay Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Quảng Nam còn cập nhật, bổ sung kịp thời nhiều diện tích rừng biến động trong vùng chi trả nên tiến độ giải ngân đến các chủ rừng, cộng đồng thôn được đảm bảo.

Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Giang chi trả tiền đợt 2, tháng 8.2022 cho cộng đồng thôn tại xã Ch'Ơm (Tây Giang)
Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Giang chi trả tiền đợt 2, tháng 8.2022 cho cộng đồng thôn tại xã Ch'Ơm (Tây Giang)

Bổ sung nhiều diện tích biến động

Sự chồng lấn ranh giới, nhập nhằng trong số liệu quy hoạch 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) tại nhiều địa phương miền núi luôn gây lúng túng cho cơ quan chức năng trong xác định chính xác diện tích cần chi trả DVMTR theo từng thời điểm. Vì vậy, Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng tỉnh đã xây dựng các nguồn ảnh viễn thám theo thời gian thực, khoanh vẽ vùng có biến động, gửi dữ liệu biến động rừng cho chủ rừng để khuyến cáo.

Thêm vào đó, phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam làm việc với hạt kiểm lâm các huyện miền núi, Phòng NN&PTNT huyện, các chủ rừng, các xã để triển khai thực hiện Kế hoạch 392 ngày 18.1.2022 của UBND tỉnh, Quyết định số 47 ngày 7.1.2022 của UBND tỉnh và Nghị quyết số 38, ngày 8.12.2021 của HDND tỉnh đối với diện tích bổ sung chi trả; hỗ trợ cập nhật biến động rừng trong vùng chi trả DVMTR đợi 1, 2 của năm 2022.

Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Quảng Nam luôn cập nhật dữ liệu biến động rừng cho chủ rừng để khuyến cáo, chi trả dịch vụ môi trường rừng đúng diện tích
Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Quảng Nam luôn cập nhật dữ liệu biến động rừng cho chủ rừng để khuyến cáo, chi trả dịch vụ môi trường rừng đúng diện tích

Từ kết quả rà soát diện tích biến động, Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng tỉnh đã tham mưu UBND tỉnh phê duyệt bổ sung hơn 13.680ha diện tích chi trả DVMTR tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Trà My, 4 cộng đồng tại huyện Bắc Trà My; xã Duy Sơn (Duy Xuyên); 5 xã của huyện Đại Lộc; Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voi Nông Sơn và Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Giang.

Tại xã Ch’Ơm (Tây Giang), Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng tỉnh vừa hoàn thành đợt kiểm tra, giám sát chi trả DVMTR của địa phương, chủ rừng (Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Giang). Đến nay, diện tích rừng giao khoán cho 64 cộng đồng thôn trên địa bàn huyện Tây Giang gần 37.200ha; chủ rừng  đã giải ngân 2 đợt chi trả DVMTR cho cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng với hơn 8,4 tỷ đồng.

Ông Phạm Phú – Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Quảng Nam đánh giá: “Thời điểm này, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động chi trả tiền DVMTR đến chủ rừng, UBND các xã vừa kịp thời vừa chặt chẽ, đúng quy định”.

Thu đúng, thu đủ

Cán bộ giải ngân vốn chính sách dịch vụ môi trường rừng
Cán bộ giải ngân vốn chính sách dịch vụ môi trường rừng

Một động thái cứng rắn là mới đây, UBND tỉnh có văn bản chỉ đạo các nhà máy thủy điện thực hiện nghiêm túc chính sách chi trả DVMTR, đồng thời, đôn đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng và thu đủ số tiền ủy thác chi trả DVMTR của các doanh nghiệp sản xuất thủy điện đúng thời hạn.

Cụ thể, chính quyền tỉnh yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất thủy điện trên địa bàn tỉnh chưa ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR với Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Quảng Nam gồm: Công ty Cơ khí áp lực Mạnh Nam – nhà máy thủy điện Tà Vi và Hợp tác xã Kinh doanh dịch vụ Duy Sơn II –nơi có nhà máy thủy điện Duy Sơn 2 phải khẩn trương thực hiện việc ký kết hợp đồng và nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR trước ngày 10.8.2013.

Các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đóng góp nguồn thu lớn cho chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Trong ảnh là nhà máy thủy điện Sông Tranh 4, đặt tại huyện Hiệp Đức
Các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh đóng góp nguồn thu lớn cho chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Trong ảnh là nhà máy thủy điện Sông Tranh 4, đặt tại huyện Hiệp Đức

Đối với các doanh nghiệp sản xuất thủy điện trên địa bàn tỉnh đã ký kết hợp đồng ủy thác nhưng chưa nộp tiền chi trả DVMTR theo đúng quy định gồm: Công ty CP Sông Ba có nhà máy thủy điện Khe Diên, Công ty CP Xây dựng 699 có nhà máy thủy điện Trà Linh 3, Công ty CP Thủy điện Geruco Sông Côn có nhà máy thủy điện Sông Kôn 2, Công ty CP Thủy điện Sông Vàng có nhà máy thủy điện An Điềm 2, có trách nhiệm chuyển trả đủ số tiền tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng trước ngày 31.7.2013.

Ở phạm vi quốc gia, thời điểm này, cả nước đã thu tiền DVMTR đạt 73,86% kế hoạch năm 2022 và đạt 111,3% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Việt Nam thu đạt 81,1% và Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng các địa phương thu đạt 69,74 % kế hoạch năm 2022.

Ban Quản lý khu bảo tồn loài Sao la trong buổi tuyên truyền về dịch vụ môi trường rừng vào tháng 8.2022
Ban Quản lý khu bảo tồn loài Sao la trong buổi tuyên truyền về dịch vụ môi trường rừng vào tháng 8.2022

Nhìn nhận hạn chế trong chính sách chi trả DVMTR 8 tháng đầu năm, Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Việt Nam khẳng định, tại một số địa phương tiến độ giải ngân tiền DVMTR còn chậm và kéo dài, một số tỉnh có nguồn thu từ DVMTR thấp và bộ máy tổ chức chưa hoàn thiện nên khó khăn trong việc triển khai các hoạt động; trình độ dân trí của hầu hết hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém nên khó khăn cho việc chi trả qua tài khoản ngân hàng…

Nhiều vướng mắc trong thực hiện Nghị định số 156 của Chính phủ, sắp tới sẽ được Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT đề xuất Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều trong nghị định này. Theo Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Việt Nam, nhiệm vụ từ nay đến cuối năm là đẩy mạnh kiểm tra, giám sát việc chi trả tiền DVMTR; hướng dẫn thu các loại dịch vụ môi trường rừng mới.

Số tiền chi trả DVMTR được xác định như thế nào? 

 
Kiểm lâm tuần tra trong lưu vực được chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Vườn quốc gia Sông Thanh
 Tại Điều 59 Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định mức chi trả và xác định số tiền chi trả DVMTR như sau: 

- Mức chi trả tiền DVMTR áp dụng đối với cơ sở sản xuất thủy điện là 36 đồng/kwh điện thương phẩm. Sản lượng điện để tính tiền chi trả DVMTR là sản lượng điện của các cơ sở sản xuất thủy điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện.

- Mức chi trả tiền DVMTR áp dụng đối với cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch là 52 đồng/m3 nước thương phẩm. Sản lượng nước để tính tiền chi trả DVMTR là sản lượng nước của cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch bán cho người tiêu dùng. Số tiền phải chi trả trong kỳ hạn thanh toán được xác định bằng sản lượng nước thương phẩm trong kỳ hạn thanh toán (m3) nhân với mức chi trả DVMTR tính trên 1m3 nước (52 đồng/m3).

- Mức chi trả tiền DVMTR đối với cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước từ nguồn nước là 50 đồng/m3. Khối lượng nước để tính tiền chi trả DVMTR là khối lượng nước cơ sở sản xuất công nghiệp đã sử dụng, tính theo đồng hồ đo nước hoặc theo lượng nước được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoặc theo chứng từ mua bán nước giữa cơ sở sản xuất công nghiệp với đơn vị kinh doanh nước. Số tiền phải chi trả trong kỳ hạn thanh toán được xác định bằng khối lượng nước (m3) do cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng nhân với mức chi trả dịch vụ môi trường rừng tính trên 1m3 nước (50 đồng/m3). 

- Mức chi trả tiền DVMTR của các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 63 của Luật Lâm nghiệp tối thiểu bằng 1 % trên tổng doanh thu thực hiện trong kỳ; mức chi trả cụ thể dựa trên cơ sở, điều kiện thực tiễn, do bên cung ứng và bên sử dụng DVMTR tự thỏa thuận.

- Mức chi trả tiền DVMT của doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản hoặc doanh nghiệp liên kết với các hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 63 của Luật Lâm nghiệp tối thiểu bằng 1% tổng doanh thu thực hiện trong kỳ; mức chi trả cụ thể dựa trên cơ sở, điều kiện thực tiễn, do bên cung ứng và bên sử dụng DVMTR tự thỏa thuận. 

Khi giá bán lẻ điện, nước bình quân chung quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 của điều này biến động tăng hoặc giảm 20%, Bộ NN&PTNT trình Chính phủ quyết định điều chỉnh mức chi trả DVMTR tương ứng.

TAGS